Chiến lược Quốc gia: Việt Nam tăng tốc Công nghiệp Hỗ trợ, bức phá chuỗi cung ứng toàn cầu giai đoạn 2026-2035

Nhằm tạo ra bước chuyển dịch mang tính chiến lược cho nền kinh tế, đưa các doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi bẫy gia công và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, Chính phủ đã chính thức ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035. Văn bản pháp lý quan trọng này, có hiệu lực ngay từ ngày 25/05/2026, được kỳ vọng sẽ trở thành đòn bẩy mạnh mẽ, định hình lại cấu trúc ngành công nghiệp chế tạo, chế biến và công nghệ cao của đất nước trong một thập kỷ tới với những mục tiêu cụ thể, định lượng rõ ràng hướng đến mốc năm 2030.

Trọng tâm cốt lõi của Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ quốc gia là việc tập trung tối đa nguồn lực nhà nước lẫn tư nhân để thúc đẩy năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa. Quyết định 929/QĐ-TTg định hướng rõ ràng việc tăng cường mối liên kết hữu cơ, bền vững giữa các doanh nghiệp vệ tinh trong nước với những doanh nghiệp dẫn dắt, tập đoàn đa quốc gia đầu chuỗi ở cả quy mô nội địa và quốc tế. Lộ trình chiến lược này tập trung gọi tên tám lĩnh vực mũi nhọn bao gồm: điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, công nghiệp đường sắt, cơ khí và tự động hóa, sản xuất ô tô, công nghiệp công nghệ cao, dệt may và da giày. Đây đều là những ngành then chốt, quyết định vị thế của Việt Nam trong mạng lưới phân công lao động quốc tế.

Để đo lường sự thành công của chiến lược, Chính phủ đã áp đặt các chỉ tiêu kỹ thuật khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu cần đạt được vào năm 2030 đối với từng ngành cụ thể. Đối với ngành công nghiệp điện tử thông minh – lĩnh vực đang thu hút dòng vốn FDI khổng lồ, mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 25% đến 30%. Ngành cơ khí chế tạo, vốn được coi là xương sống của nền công nghiệp, phải phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa 40%. Trong khi đó, ngành công nghiệp sản xuất ô tô hướng tới chỉ tiêu từ 22% đến 30%, một con số đầy thách thức đòi hỏi sự bứt phá của khối linh kiện phức tạp. Hai ngành xuất khẩu chủ lực truyền thống là dệt may và da giày đặt kỳ vọng rất cao với tỷ lệ nội địa hóa lần duyệt đạt mức 60% và 60% đến 65%, nhằm tự chủ nguồn nguyên phụ liệu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu từ các thị trường trung gian. Cuối cùng, lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao – phân khúc mới mẻ và có giá trị gia tăng lớn nhất – được giao chỉ tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 15% vào cuối thập kỷ này.

Nhận thức rõ ràng rằng doanh nghiệp chính là tế bào cốt lõi thực thi chiến lược, Quyết định 929/QĐ-TTg đã vạch ra một lộ trình toàn diện để nâng tầm năng lực nội tại cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam theo ba trụ cột chính: quản trị, công nghệ và nhân lực.

Trụ cột đầu tiên tập trung vào việc chuẩn hóa hệ thống quản lý sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo chương trình, dự kiến sẽ có 600 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được nhà nước hỗ trợ tư vấn, đào tạo chuyên sâu về hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị sản xuất hiện đại. Mục tiêu cuối cùng không dừng lại ở việc đào tạo lý thuyết, mà hướng tới kết quả thực chất với khoảng 400 doanh nghiệp áp dụng thành công các hệ thống này vào quy trình vận hành thực tế. Việc chuẩn hóa này là tấm “thẻ thông hành” bắt buộc để các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật nghèo nàn, khắt khe từ các đối tác khó tính trên thị trường quốc tế.

Đi sâu vào cấu trúc kỹ thuật của chương trình nghiên cứu phát triển (R&D), Quyết định 929/QĐ-TTg đặt mục tiêu hỗ trợ 80 doanh nghiệp thiết lập năng lực phòng thí nghiệm độc lập, trong đó 40 doanh nghiệp sẽ tiên phong làm chủ và ứng dụng thành công hai nhóm công nghệ chiến lược then chốt.

Một nhóm nhân viên tại nhà máy Vinamfg đang thảo luận về hiệu suất sản xuất, với màn hình hiển thị số liệu thống kê và robot hỗ trợ trong nền.

Nhóm thứ nhất bao gồm 06 công nghệ xử lý cơ bản về chế biến vật liệu. Đây là lời giải cho điểm nghẽn “làm không nổi ốc vít” của cơ khí Việt Nam suốt nhiều năm qua, tập trung vào: công nghệ đúc chính xác áp lực cao cho các chi tiết hợp kim phức tạp; công nghệ rèn dập nóng và dập nguội chính xác cao phục vụ khung gầm ô tô và đường sắt; công nghệ xử lý nhiệt và bề mặt tiên tiến (như thấm cacbon, thấm nitơ lỏng, phủ màng mỏng PVD) nhằm gia tăng độ bền mỏi cho linh kiện; công nghệ hàn xung, hàn laser cường độ cao cho các kết cấu chịu lực; công nghệ khuôn mẫu chính xác siêu trường siêu trọng; và công nghệ tạo hình bột kim loại (MIM) cho các linh kiện điện tử thông minh siêu nhỏ.

Nhóm thứ hai mang tính sống còn đối với khối ngành xuất khẩu dệt may – da giày là 08 công nghệ lõi thế hệ mới mang đặc tính thông minh và thân thiện với môi trường. Danh mục này bao gồm: công nghệ dệt nhuộm không sử dụng nước và công nghệ nhuộm kỹ thuật số giảm thiểu tối đa hóa chất độc hại; công nghệ sản xuất sợi tái chế từ rác thải nhựa đại dương; công nghệ thuộc da sinh học bằng enzyme tự nhiên không chứa kim loại nặng crôm; công nghệ cắt, tạo hình robot tự động hóa bằng tia nước áp lực cao hoặc laser tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI); công nghệ keo dán dệt may gốc nước sinh học dễ phân hủy; công nghệ in 3D cấu trúc đế giày thể thao kỹ thuật cao; công nghệ xử lý chất thải dệt nhuộm khép kín tuần hoàn nước 100%; và công nghệ nhãn mác thông minh tự động truy xuất nguồn gốc carbon của sản phẩm. Việc làm chủ 08 công nghệ này giúp hàng hóa Việt Nam vượt qua “Hàng rào xanh” châu Âu để giữ vững vị thế xuất khẩu.

Mặc dù danh mục công nghệ đã được định hình rõ nét, một câu hỏi lớn mang tính nghiên cứu thực địa được đặt ra: Năng lực hấp thụ công nghệ thực tế của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện ở mức nào trước các tiêu chuẩn chuyển giao mới? Khảo sát thực trạng cho thấy, phần lớn khối cơ khí nội địa vẫn đang mắc kẹt ở phân khúc thâm dụng lao động, sử dụng máy móc thế hệ cũ với độ chính xác cơ học giới hạn. Khi đối mặt với 06 công nghệ chế biến vật liệu nâng cao của Quyết định 929/QĐ-TTg, các doanh nghiệp đang vấp phải hai rào cản lớn: thiếu hụt hạ tầng số để đồng bộ hóa thiết bị (như các hệ thống điều khiển số CNC nâng cao tích hợp IoT) và lỗ hổng lớn về tư duy kiểm soát chất lượng theo chuỗi.

Năng lực hấp thụ công nghệ không đơn thuần là việc bỏ tiền mua máy móc mới về vận hành, mà nằm ở khả năng “giải mã” công nghệ, làm chủ quy trình thiết kế khuôn mẫu và tự hiệu chỉnh thông số kỹ thuật khi phôi vật liệu thay đổi. Hiện tại, chỉ có khoảng 15-20% doanh nghiệp cơ khí quy mô vừa và lớn tại Việt Nam có đủ phòng R&D sơ khởi để tiếp nhận chuyển giao ngay lập tức. Khối doanh nghiệp còn lại cần một “bước đệm” trung gian – đó là lý do vì sao Chính phủ phải lồng ghép chương trình tư vấn quản trị sản xuất quốc tế cho 600 doanh nghiệp song song với quá trình chuyển giao phần cứng, giúp nâng dần độ nhạy bén và khả năng dung nạp kỹ thuật của kỹ sư nội địa.

Để giải quyết bài toán năng lực hấp thụ và thúc đẩy các doanh nghiệp vệ tinh bứt phá, việc nhìn lại các bài học lịch sử thành công của Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) mang lại những giá trị tham chiếu đắt giá cho Việt Nam trong giai đoạn này.

Vào những năm 1970-1980, Hàn Quốc đã tạo nên “Kỳ tích sông Hàn” bằng cách sử dụng chiến lược “Tín dụng định hướng chi phối”. Chính phủ Hàn Quốc không rải vốn cào bằng, mà ép các ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển quốc gia đổ nguồn vốn ưu đãi lãi suất cực thấp vào các ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho các tập đoàn lớn (Chaebol) như Hyundai hay Samsung. Đổi lại, các doanh nghiệp vệ tinh phải ký cam kết đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe. Nếu doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc chậm tiến độ làm chủ công nghệ, dòng vốn ưu đãi sẽ lập tức bị cắt đứt. Cách tiếp cận “Củ cà rốt và cây gậy” này đã ép các doanh nghiệp cơ khí nhỏ phải dốc toàn lực nghiên cứu và hấp thụ công nghệ bằng mọi giá.

Redraw infographic with Vietnamese text

Trong khi đó, Đài Loan lại áp dụng một mô hình tài chính tinh tế hơn thông qua “Mạng lưới Quỹ tín dụng bảo lãnh đặc biệt” và trung tâm R&D quốc gia ITRI. Nhận thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) thường thiếu tài sản thế chấp để vay vốn công nghệ, chính quyền Đài Loan đã đứng ra thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng lên tới 80-90% giá trị khoản vay tại các ngân hàng. Đồng thời, viện ITRI sẽ đứng ra bỏ ngân sách mua bản quyền công nghệ lõi từ Mỹ và Châu Âu, tiến hành “giải mã”, tối ưu hóa cấu trúc phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ, rồi chuyển giao lại với giá ưu đãi kèm theo khoản vay vốn mua thiết bị được bảo lãnh. Mô hình này đã tạo nên một mạng lưới hàng chục nghìn doanh nghiệp vệ tinh cực kỳ linh hoạt và tinh nhuệ, nền tảng giúp Đài Loan thống trị chuỗi cung ứng bán dẫn và điện tử toàn cầu ngày nay.

Vận dụng linh hoạt các kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước, Quyết định 929/QĐ-TTg đã cụ thể hóa một bộ công cụ ưu đãi đặc quyền toàn diện, áp dụng trực tiếp cho nhóm 600 doanh nghiệp mục tiêu nhằm tháo gỡ ba “gông cùm” lớn nhất: vốn, thuế và mặt bằng sản xuất.

Về chính sách tài chính và tín dụng, các doanh nghiệp tham gia chương trình được tiếp cận gói cấp bù lãi suất từ ngân sách nhà nước, hỗ trợ giảm từ 2% đến 3% một năm so với lãi suất vay thương mại thông thường cho các khoản vay dài hạn đầu tư máy móc, dây chuyền sản xuất mới. Đồng thời, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia sẽ thực hiện cơ chế tài trợ vốn không hoàn lại lên đến 70% tổng kinh phí đối với các dự án thử nghiệm sản xuất và tiếp nhận chuyển giao công nghệ lõi thuộc danh mục ưu tiên.

Về chính sách thuế, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thuộc danh mục được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong vòng 15 năm kể từ khi có doanh thu từ dự án mới; miễn thuế hoàn toàn trong 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra, chính phủ áp dụng cơ chế miễn thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được để tạo tài sản cố định hoặc phục vụ trực tiếp cho hoạt động R&D của doanh nghiệp.

Về chính sách tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất, các địa phương được chỉ đạo ưu tiên bố trí quỹ đất sạch tại các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao chuyên sâu cho doanh nghiệp hỗ trợ. Nhóm doanh nghiệp này được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước từ 7 đến 11 năm tùy theo địa bàn đầu tư, đồng thời được nhà nước hỗ trợ tối đa 50% chi phí thuê mặt bằng sản xuất tại các cụm công nghiệp tập trung trong 5 năm đầu tiên, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí cố định lúc khởi nghiệp công nghệ.

Trụ cột cuối cùng, đóng vai trò quyết định sự bền vững của cả chuỗi tiến trình này, chính là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua mô hình liên kết “tứ giác” giữa các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Sự bắt tay chiến lược này giải quyết triệt để bài toán “lệch pha” giữa lý thuyết đào tạo và thực tiễn sản xuất bấy lâu nay. Học viên và kỹ sư tại các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẽ được tiếp cận với các công nghệ vận hành thực tế, trong khi các viện nghiên cứu có cơ hội thương mại hóa các đề tài khoa học ngay trên dây chuyền của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực kỹ thuật cao được trui rèn từ mô hình này chính là chìa khóa để vận hành các hệ thống tự động hóa và công nghệ lõi thông minh mà chương trình hướng tới.

Infographic mô hình liên kết tứ giác nhân lực

Quyết định số 929/QĐ-TTg ban hành trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ và định hình lại theo xu hướng đa dạng hóa nguồn cung. Việc Việt Nam kịp thời ban hành một khung chiến lược dài hơi cho thấy tầm nhìn xa của Chính phủ trong việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tự cường. Bằng việc lượng hóa chi tiết các mục tiêu từ tỷ lệ phần trăm nội địa hóa đến các chính sách ưu đãi dòng vốn, học hỏi bài bản mô hình tài chính của Đông Á, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn mới là một bản kế hoạch hành động chi tiết, có tính khả thi cao. Khi các mục tiêu đến năm 2030 được hoàn thành, Việt Nam không chỉ nâng cao được hàm lượng giá trị nội địa, mà còn hình thành được một cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh, đủ sức đứng vững và cạnh tranh sòng phẳng trên sân chơi quốc tế, biến Việt Nam thành một công xưởng chế tạo thông minh và hiện đại của toàn cầu.


Khám phá thêm từ VOSTOK BUSINESS CONSULTING

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.


Khám phá thêm từ VOSTOK BUSINESS CONSULTING

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc