Năng lượng 18/04

THỊ TRƯỜNG

Thep Platts, các biện pháp trừng phạt của EU đối với Nga sẽ dẫn đến việc giảm mua dầu và khí đốt trong tháng 5, các trader tránh các giao dịch do cách thức thể hiện các điều kiện không rõ ràng và lo ngại ngày càng tăng về nguồn cung từ Nga. Gói trừng phạt thứ 4 cấm các giao dịch trực tiếp hoặc gián tiếp với hầu hết các công ty nhà nước của Nga, bao gồm Gazprom Neft và Transneft. Các trường hợp ngoại lệ chỉ được phép áp dụng đối với các thỏa thuận “thực sự cần thiết”. Theo các chuyên gia, các hình phạt cứng rắn đối với bất kỳ giao dịch nào có thể được coi là hành vi vi phạm lệnh trừng phạt làm tăng áp lực lên các bên giao dịch

Vitol – công ty thương mại hàng đầu thế giới với khối lượng giao dịch 11 triệu bpd có kế hoạch chấm dứt hợp tác với dầu mỏ LB Nga đến cuối năm 2022 (bắt đầu từ ngày 15/05 tới), nếu không có chỉ thị bất thường nào khác. Công ty vẫn tiếp tục thực hiện các hợp đồng mua bán dài hạn. Ngoài Vitol, Trafigura và Glencore cũng đã công bố kế hoạch cắt giảm giao dịch dầu mỏ LB Nga, ít nhất không ký kết hợp đồng mới. IEA dự báo, với khối lượng xuất khẩu 4,7 triệu bpd dầu thô và 2,8 triệu bpd sản phẩm dầu mỏ, khai thác dầu thô LB Nga sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi các lệnh cấm vận – giảm sản lượng tới 3 triệu bpd xuống còn 7,1 triệu bpd. 

Tuy nhiên, các chuyên gia LB Nga có nhận định hoàn toàn khác IEA (mới đây OPEC+ đã từ chối sử dụng dữ liệu tổ chức này cung cấp trong tính toán kế hoạch nới lỏng hạn ngạch và dự báo thị trường). Xuất khẩu LB Nga có thể bị ảnh hưởng trong phạm vi 2,7 triệu bpd – khối lượng xuất sang các quốc gia không thân thiện, nhưng nhu cầu tiêu thụ dầu thô thế giới đến năm 2026 sẽ tăng khoảng +7,6 triệu bpd, trong đó Ấn Độ tăng 1,7 triệu bpd, Trung Quốc +0,7 triệu bpd và các quốc gia đang phát triển châu Á khác +1,7 triệu bpd. Do vậy, thị trường tiêu thụ đối với dầu thô LB Nga không bị hạn chế. Nga cần phát triển kênh kinh doanh riêng như công ty thương mại Energopole SA (Rosneft), Litasco (Lukoil) hoặc tăng cường hợp tác với các công ty châu Á – Unipec, ChinaOil.

Vấn đề mấu chốt trong kịch bản chuyển hướng xuất khẩu dầu thô là ký kết hợp đồng mới và thuê được tanker vận chuyển, ngay cả Vitol cũng không sở hữu đội tàu mà sử dụng dịch vụ thuê ngoài, bao gồm cả của hãng vận tải biển Sovcomflot (LB Nga). Với khối lượng xuất khẩu 115 triệu tấn/năm bằng đường biển, đội tàu Sovcomflot (khả năng chuyên chở 17 triệu tấn) hoàn toàn đủ khả năng đảm nhận công việc vận chuyển.

Khai thác LB Nga sẽ chỉ gặp vấn đề nghiêm trọng khi EU đồng thời từ chối nhập khẩu dầu thô đường ống (45-50 triệu tấn/năm), khi đó, việc tìm kiếm tanker trở nên khó khăn khi cả EU lẫn LB Nga đều phải thuê tanker để tái cơ cấu chuỗi cung ứng/xuất khẩu dầu mỏ. Điều này gần như không thể xảy ra trong vòng 5 năm tới bởi ba nguyên nhân: thứ nhất, gần 15 nhà máy lọc dầu EU đang tiếp nhận trực tiếp dầu Urals từ đường ống Druzhba, không phải chịu bất cứ chi phí vận tải biển/bốc dỡ/vận chuyển đường bộ, đường sắt bổ sung nào nếu tiếp tục duy trì; thứ hai, thiết bị các nhà máy này được thiết kế để tinh chế dầu Urals; và cuối cùng, Rosneft sở hữu cổ phần chi phối tại nhiều nhà máy EU tổng công suất 37 triệu tấn/năm. LB Nga còn đang chuẩn bị lên kế hoạch xây mới bổ sung đường ống dẫn khí đốt/dầu thô vùng Siberia, cho phép chuẩn hướng xuất khẩu tài nguyên sang khu vực phía Nam và Trung Quốc, cũng như kết nối vùng Viễn Đông vào hệ thống năng lượng thống nhất. Hiện phần lớn các nhà máy lọc dầu LB Nga về địa lý đang hướng tới thị trường châu Âu.

EU đang thảo luận về gói trừng phạt thứ 6 kinh tế LB Nga, có thể bao gồm cả dầu thô (thực hiện từng bước) và lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Song song, EU kêu gọi các quốc gia thành viên tăng cường cung cấp vũ khí cho Ukraine. Nếu cấm vận nhập khẩu năng lượng LB Nga, chỉ riêng Đức sẽ phải chịu thiệt hại trên 220 tỷ EUR tỷ lệ lạm phát vượt 10%/năm.

Nhu cầu tiêu thụ dầu thô Trung Quốc đang giảm 6%, tương đương -900.000 bpd do ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế Covid-19 áp dụng tại 28 tỉnh thành, bao gồm cả lockdown trung tâm tài chính Thượng Hải (26 triệu dân). Số lượng chuyến bay thương mại hàng tuần giảm 60% so với cùng kỳ năm ngoái xuống mức thấp nhất kể từ năm 2000, công suất hoạt động tinh chế các tập đoàn lớn như Sinopec giảm 500.000 bpd, PetroChina giảm 170.000 bpd.

Ấn Độ trở thành nhà cung cấp diesel lớn tại EU sau khi khối này từ chối nhập khẩu dầu thô và sản phẩm dầu mỏ LB Nga. Xuất khẩu diesel Ấn Độ trong tháng 3 đã tăng lên 847.000 bpd – mức cao nhất kể từ tháng 4/2020, trong đó khoảng 300.000 bpd xuất sang EU, nơi giá diesel cao hơn 100 USD/tấn so với Singapore. Mặc dù chi phí vận chuyển dầu thô từ LB Nga sang Ấn Độ để tinh chế, sau đó xuất ngược lại sang EU cao hơn nhiều so với nhập trực tiếp từ LB Nga, nhưng EU đang tự trừng phạt chính mình. Nhập khẩu diesel và gasoil LB Nga đang chiếm tỷ lệ 55% tại EU, nơi nhu cầu tiêu thụ dự báo tăng 200.000 bpd lên 6,7 triệu bpd trong tháng 4 này. Nguồn cung thay thế LB Nga có thể đến từ KSA, nhưng nước này kể từ trước khủng hoảng giá dầu tháng 5/2020 đã chuyển hướng xuất khẩu diesel sang các thị trường châu Phi.

Theo đánh giá của EY, Sau mùa đông, ở một số vùng, lượng khí dự trữ trong các kho chứa đã giảm đáng kể. Ở châu Âu, vào đầu tháng 4, USG được lấp đầy dưới mức trung bình trong trong 5 năm qua, còn tại Mỹ, tỷ lệ lấp đầy của UGS bị ảnh hưởng do tỷ trọng xuất khẩu khí tăng (đầu quý II dự trữ giảm 22% so với cùng kỳ năm trước). Mỹ đang tích cực tăng cường xuất khẩu LNG – vào tháng 3, lần đầu tiên 10,44 tỷ m3 hóa lỏng đã được xuất khẩu. Nếu từ tháng 1-11/2021, tổng tỷ trọng xuất khẩu LNG từ Mỹ sang EU và Anh chiếm 27%, thì trong giai đoạn từ tháng 12/2021 đến tháng 3/2022 đã là 57%. Nhìn chung, tại Châu Âu, lượng nhập khẩu LNG quý I tăng 80% so với cùng kỳ năm ngoái nhờ nguồn cung từ Mỹ, Ai Cập và Qatar. Nhập khẩu tăng vọt có thể được giải thích bởi mong muốn lấp đầy các cơ sở lưu trữ lên 90% vào đầu tháng 11. 

Việc gia tăng nhập khẩu LNG của EU nhờ các nhà tiêu thụ châu Á giảm nhập khẩu, chủ yếu do lockdown tại Trung Quốc. Từ tháng 1-3, TQ đã giảm lượng mua LNG xuống 14% so với cùng kỳ, đồng thời không bỏ lỡ cơ hội bán lại một số khối lượng đã mua trước đó và kiếm được khá nhiều tiền nhờ giá khí đốt cao ở châu Âu. Khi tình hình dịch tễ ở Trung Quốc được cải thiện, trạng thái nóng của thị trường LNG có khả năng sẽ bị khôi phục và sẽ không có chuyển biến nhiều đến trước năm 2024, khi các dự án LNG mới ở Mỹ, Qatar và Úc được dần khởi động. Tạm thời, tất cả khối lượng LNG xuất khẩu từ Mỹ được lên kế hoạch cho năm 2022 (126 tỷ m3) cũng không thể thay thế hoàn toàn khí đốt từ Nga. Đồng thời, vấn đề về tái hóa khí LNG khu vực vẫn còn bỏ ngỏ, hầu hết các trạm tiếp nhận nằm ở Tây Ban Nha. Việc vận chuyển khí đốt từ nước này gặp khá nhiều khó khăn do mạng lưới đường ống chưa phát triển.

DẦU THÔ

Tổng thống Mỹ J. Biden phải hủy một trong những sắc lệnh đầu tiên của chính mình ký ngay sau khi nhậm chức – cấm nhượng quyền sản xuất dầu khí mới trên đất Liên bang. Từ ngày 18/04, chính phủ Mỹ sẽ đưa ra đấu giá 173 lô giấy phép quyền sản xuất dầu khí tổng diện tích gần 60.000 hecta tại 9 tiểu bang, bất chấp tác động tiêu cực đến môi trường. Quyết định tung ra thị trường 240 triệu thùng dầu thô SPR đã chỉ có thể khiến giá dầu thế giới giảm nhẹ trong vòng 1 tuần. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Rystad Energy cho thấy, số lượng cấp phép khoan mới lưu vực Permian đã tăng lên mức kỷ lục – 904 giấy phép khoan ngang trong tháng 3, cho thấy ngành dầu khí bắt đầu tăng tốc khai thác, phản ứng đúng với giá dầu thế giới tăng cao. Dự báo đến cuối năm 2022, sản lượng khai thác dầu thô Mỹ bình quân có thể tăng 400.000-600.000 bpd lên 12,2-12,4 triệu bpd. Tuần kết thúc ngày 14/04, số lượng giàn khoan dầu khí đang hoạt động tiếp tục tăng 4 lên 693 giàn, trong đó, dầu thô và khí đốt đều tăng 2 lên 548 và 143 giàn tương ứng.

Lệnh cấm khoan dầu khí trên các vùng đất liên bang là một phần trong chiến dịch tái tranh cử của TT Biden. Tuy nhiên, ngày 15/04, trước áp lực phải hành động để giải quyết vấn đề giá năng lượng quá cao, chính quyền Biden đã thông báo nối lại việc thuê đất của liên bang để sản xuất dầu khí. Diện tích có thể cho thuê sẽ giảm 80% xuống còn 144.000 mẫu Anh, và thuế suất khai thác sẽ tăng từ 12,5% lên 18,75%. Giới chuyên gia cho rằng quyết định này sẽ không giúp tình hình trên thị trường dầu và các sản phẩm dầu mỏ được nhanh chóng xoa dịu. Theo Baker Hughes, các công ty tiện ích của Mỹ đã tăng số lượng giàn khoan dầu khí của họ trong tuần thứ tư liên tiếp từ ngày 8 – 14/04. Số lượng giàn tăng lên 693 (+4), cao nhất kể từ tháng 03/2020. 

Một nhóm các nhà lãnh đạo công quyền, nhà kinh tế và nhà phân tích Venezuela đã kêu gọi Mỹ, chính quyền Maduro và phe đối lập nối lại các cuộc đàm phán để giảm bớt các lệnh trừng phạt dầu mỏ. Nhóm này cũng kêu gọi ký kết các thỏa thuận giữa Venezuela với các công ty dầu mỏ phương Tây và các công ty tư nhân khác. Cuộc gặp của Maduro với các quan chức Mỹ vào tháng 3 đã làm dấy lên suy đoán rằng các lệnh trừng phạt có thể được nới lỏng. Phe đối lập Venezuela chống lại việc dỡ bỏ các hạn chế mà không có “bước đi cụ thể” để khôi phục nền dân chủ ở nước này.

Một tàu chở dầu chở 42.000 tấn dầu của Nga đã bị các nhà hoạt động của GreenPeace chặn lại ở ngoài khơi biển Anh. Các nhà bảo vệ môi trường yêu cầu tàu này quay đầu. Greenpeace trước đó đã thúc giục Chính phủ Anh cắt giảm việc sử dụng và thăm dò nhiên liệu hóa thạch trong bố cảnh London tìm cách tăng cường an ninh năng lượng của mình. UK hiện đang dự kiến sẽ loại bỏ dần việc nhập khẩu dầu của Nga vào đến cuối năm 2022.

Moody dự đoán, lệnh cấm nhập khẩu năng lượng của Nga sẽ đẩy giá dầu ở EU lên 160 USD/thùng. Các chuyên gia của hãng cảnh báo rằng giá tăng vọt có thể dẫn đến việc một số nước EU phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn cung từ Nga sẽ phải chuyển sang sử dụng hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng mức tăng lên 160 USD/thùng là kịch bản bi quan. Cho đến nay, EU chỉ đang thảo luận về lệnh cấm vận, nhưng chưa có sự đồng thuận về vấn đề này. Nhiều nguồn tin cho biết, lệnh cấm nhập khẩu dầu của Nga có thể xảy ra. Trong phiên giao dịch sáng ngày 18/04, giá dầu Brent đã tăng lên trên 1133 USD/thùng.

Sau mở đầu Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ngày 24/02/2022, nhiều công ty nước ngoài vẫn tiếp tục mua dầu của Nga mà không che giấu nguồn gốc: SOCAR Trading (AZ); Wintel Petrochemicals, BB Energy Trading Ltd. (GB); ALTEX Handel und Beratung GmbH (DE);  Mangalore Refinery and Petrochemicals Ltd. (IN); Azzamenia Trading Ltd. (CY); CNPC, Sinopec, ChemChina/Sinochem (CN); ING Bank (NL); Marsa Energy Trading; QR Trading DMCC; Coral Energy, ENOC (AE); ORLEN Group, Grupa Lotos S.A. (PL); Trafigura, Atlantis Commodities Trading (SG); ExxonMobil, Chevron (US); Petraco Oil Company, Mercuria, Paramount Energy/Tenergy Trading, Euronova Energies S.A., Ipek SA, Normeston Trading, Alvari SA (CH); Centrobalt OÜ (EE); SK Energy (KR); JAPEX, Marubeni, Itochu Corporation, Mitsui & Co. Ltd., INPEX Corporation, Idemitsu Kosan Co. Ltd. (JP).

Trung Quốc trong năm nay sẽ chính thức vượt Mỹ trở thành quốc gia sở hữu công suất lọc dầu lắp đặt lớn nhất thế giới 18,81 triệu bpd, tương đương 937 triệu tấn (+25,6 triệu tấn), chủ yếu bởi 2 dự án lớn đi vào hoạt động – nhà máy lọc dầu Quảng Đông PetroChina công suất 20 triệu tấn/năm và Hainan Petrochemical (Sinopec) mở rộng thêm 5 triệu tấn/năm.

Nguyên dẫn đến việc Indian Oil (IOC) từ chối tiếp tục mua dầu Urals spot chính là giá ở mức bằng hoặc cao hơn tiêu chuẩn Brent 1 USD/thùng trong khi LB Nga bị ép chiết khấu tới -40 USD/thùng cho các công ty thương mại, trong đó có Vitol.

Tập đoàn Dầu khí quốc gia Libya (NOC) ngày 17/04 tuyên bố tình trạng bất khả kháng – dừng khai thác tại mỏ El Feel (70.000 bpd, nằm cách không xa mỏ dầu lớn nhất đất nước El-Sharara) do bị một nhóm người đột nhập phá hoại. Ngoài ra, các cuộc biểu tình chống Thủ tướng A. Dbeibeh đang ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu dầu thô tại 2 cảng – Zueitina và Melitta, khoảng 1 triệu thùng dầu thô không thể được đưa lên tanker. Quốc hội Libya mới đây vừa thông qua dự luật tăng sản lượng dầu thô năm 2022 lên 1,4 triệu bpd.

KHÍ ĐỐT & LNG

Theo Ủy ban châu Âu (EC), phân tích sơ bộ sắc lệnh yêu cầu thanh toán nhập khẩu khí đốt Gazprom bằng RUB của Tổng thống V. Putin cho thấy, việc các nước thành viên EU thực thi sẽ vi phạm lệnh trừng phạt của khối chống lại LB Nga. Cơ chế thanh toán mới cho phép LB Nga kiểm soát toàn bộ quá quá trình chuyển giao nghĩa vụ tiền – hàng. Hiện các ngân hàng EU/Mỹ đang cố tình trì hoãn các khoản thanh toán nhập khẩu năng lượng LB Nga bằng cách kéo dài quá trình kiểm duyệt hồ sơ. 

Chính phủ Netherlands chính thức không cho phép các doanh nghiệp nước này thanh toán nhập khẩu khí đốt Gazprom bằng RUB. Như vậy, khi đến thời hạn thanh toán (cuối tháng 4 – giữa tháng 5 tới) có thể phát sinh tình huống không thể tách biệt giữa khí đốt được thanh toán bằng RUB qua Gazprombank với khí đốt thanh toán bằng EUR như trước đây, bởi cả hai đối tượng khách hàng đều không vi phạm hợp đồng, và khí đốt bơm theo đường ống chung. Gazprom không thể khóa van – ngừng cung cấp khí đốt cả EU, cũng như chỉ cho phép khách hàng thanh toán RUB được nhận khí, số còn lại thì không. Ngày 17/04 công suất trung chuyển khí qua Ukraine đã giảm gần -50% xuống còn 57 triệu m3/ngày. Việc cấm xuất khẩu trực tiếp cho từng quốc gia từ chối thanh toán bằng tiền EUR/USD chỉ có thể thực hiện được khi Nga tuyên bố lệnh trừng phạt với từng quốc gia này.

Gazprom cho biết, EU cần bơm tối thiểu 63 tỷ m3 khí đốt vào hệ thống kho chứa ngầm (UGS) để đạt tỷ lệ lấp đầy 90% như kế hoạch đặt ra, tuy nhiên, theo nhận định của công ty, điều này gần như không khả thi. Số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy, khối lượng rút ra trong giai đoạn mùa đông luôn lớn hơn bơm vào trong giai đoạn mùa hè, cụ thể: năm 2020 rút ra 67,3 tỷ m3, bơm vào 47,3 tỷ m3, năm 2021 – 51 tỷ m3 và 47,2 tỷ m3 tương ứng.

Chính phủ Đức dự định chi tới 3 tỷ euro để xây dựng 4 trạm tiếp nhận LNG nổi trong vòng 10 năm tới. Bộ Tài chính Đức đã cấp vốn mà không cần tham vấn trước với ủy ban ngân sách của Hạ viện, vì “lý do chính đáng” – nhập khẩu LNG để giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp khí đốt của Nga. Các cảng tiếp nhận thể có thể được thiết lập ở các thành phố như Wilhelmshaven, Brunsbüttel hoặc Rostock. Thay vì khai trương Nord Stream 2, Đức đang nỗ lực hết mình thay thế nguồn khí đốt từ Nga. Trong 10 năm tới, các trạm LNG có thể mang lại cho Đức, ít nhất, khoảng 30 tỷ m3 khí. Hiện nay, Đức hiện tiêu thụ khoảng 90 tỷ m3 mỗi năm, và đến năm 2034 mức tiêu thụ sẽ tăng lên khoản 110 tỷ m3. Tăng trưởng tiêu thụ sẽ diễn ra trong bối cảnh nguồn cung khí đốt từ Na Uy và Hà Lan giảm, vốn đang ở mức đỉnh. Sau khi mỏ lớn nhất ở Groningen đóng cửa, quá trình này sẽ tăng tốc nhanh hơn nữa, ngay trong năm 2023. Có nghĩa các trạm tiếp nhận LNG được xây mới không những không bù đắp được mà thậm chí còn không cung cấp đủ mức tăng trưởng cần thiết. Sự phụ thuộc vào khí đốt của Nga của Đức ước tính khoảng 238 tỷ USD. Các nhà kinh tế Đức đang dự đoán một cuộc suy thoái ở nền kinh tế lớn nhất châu Âu nếu nguồn cung cấp khí đốt của Nga bị ngừng. 

Trung Quốc đã ký hợp đồng dài hạn kỷ lục 22,7 triệu tấn LNG vào năm 2021, tăng 516% so với cùng kỳ năm trước. Theo các điều khoản của các hợp đồng đã ký kết trước đây, việc cung cấp LNG sẽ được thực hiện chính xác vào năm 2022. Điều này, theo Viện Nghiên cứu Kinh tế & Công nghệ (ETRI) – “think tank” của CNPC Trung Quốc – sẽ làm tăng nhập khẩu LNG của Trung Quốc vào những năm tới. Một báo cáo do ETRI công bố ngày 10/04 cho biết, nhập khẩu khí đốt vào Trung Quốc sẽ đạt khoảng 185 tỷ m3 vào năm 2022, tăng 10,1% so với năm ngoái. Một vai trò quan trọng trong việc này sẽ do nguồn cung cấp khí đốt từ Liên bang Nga, cũng như việc vận hành các trạm tiếp nhận LNG ở các thành phố Zhangzhou và Binhai. Vào năm 2021, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản (quốc gia đứng đầu thế giới về nhập khẩu LNG) với việc mua 91,3 triệu tấn LNG. Nhiều khả năng, TQ sẽ tiếp tục chiếm vị trí số một vào năm 2022. Mặt khác, khối lượng nhập khẩu LNG của Trung Quốc từ tháng 01-03/2022 đã giảm 13% (xuống 16,9 triệu tấn) so với cùng kỳ năm 2021. ETRI tin rằng, nhu cầu về khí đốt tự nhiên ở Trung Quốc sẽ tăng 8,2% vào năm 2022. Có lẽ đây là lý do giải thích cho việc TQ ký kết rất nhiều hợp đồng cung cấp LNG có thời hạn. Năm 2022, quốc gia này dự định bổ sung thêm khoảng 10 GW công suất lắp đặt mới để sản xuất điện từ khí đốt.

Ủy ban Cải cách và Phát triển Tỉnh Quảng Đông cho biết tỉnh sẽ tăng tiêu thụ khí đốt lên 65,5% trong vòng 5 năm đến năm 2025 bằng cách chuyển đổi ngành công nghiệp từ than sang khí đốt và xây dựng các nhà máy điện khí mới. Mức tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Quảng Đông dự kiến ​​sẽ đạt 48 tỷ m3 đến năm 2025 so với 29 tỷ m3 năm 2020 và sẽ tăng trưởng khoảng 32% so với 36,4 tỷ m3 tiêu thụ trong năm 2021. Vào năm 2021, tỉnh này chiếm gần 10% tổng khối lượng tiêu thụ khí đốt của Trung Quốc ở mức 372,6 tỷ m3, trở thành tỉnh tiêu thụ khí đốt lớn nhất.

TRADING & LOGISTICS

Chuỗi cung ứng toàn cầu đang đứng trước nguy cơ gián đoạn lần nữa khi khối lượng tàu biển chở nguyên vật liệu thô xếp hàng chờ đợi ra/vào các cảng lớn Trung Quốc đang tăng lên nhanh chóng.

LB NGA

Thuế xuất khẩu dầu thô LB Nga từ ngày 01/05 sẽ giảm -11,6 USD xuống 49,6 USD/tấn, giá dầu Urals bình quân trong giai đoạn từ ngày 15/03 đến 14/04 chỉ đạt 79,81 USD/thùng (-15 USD/thùng so với tháng trước). Chiết khấu bán dầu Urals giao hàng giữa tháng 4 đã tăng lên gần 40 USD/thùng so với tiêu chuẩn Dated Brent, CIF Địa Trung Hải – 78,1 USD/thùng, CIF Rotterdam – 72,2 USD/thùng so với giá Brent 110,8 USD/thùng tại ngày 15/04. Một tháng trước, chiết khấu Urals mới chỉ ở mức -28 USD/thùng.

Xuất khẩu dầu từ Nga qua hệ thống Transneft sang các nước không thuộc CIS trong 14 ngày đầu tháng 4 đã tăng 14,2% so với tháng trước, lên 645.000 tấn/ngày. Trong số các tuyến xuất khẩu đường ống, chỉ có Đức giảm nhập khẩu dầu của Nga 27,7%, xuống còn 40 nghìn tấn/ngày. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là Ba Lan, tăng gấp đôi lượng bơm lên 34,5 nghìn tấn/ngày và Trung Quốc – tăng khối lượng nhập dầu từ Nga 15,7%, lên 121 nghìn tấn/ngày. Xuất khẩu bằng đường biển tăng 16,9%, lên 407 nghìn tấn/ngày, qua đường ống dẫn dầu – tăng 9,8%, lên 238 nghìn tấn/ngày.

Trong tháng 4, xuất khẩu của Gazprom sang các khách hàng chủ chốt đã giảm xuống mức thấp nhất trong ba tháng – 407 triệu m3/ngày do thời tiết ấm hơn và giá thị trường giao ngay thấp hơn, khiến khí đốt đường ống của Nga trở nên kém cạnh tranh hơn. Việc Nga yêu cầu thanh toán khí đốt bằng đồng rúp cũng khiến người mua nước ngoài lo ngại và buộc họ phải xem xét các nguồn cung thay thế. Sản lượng trung bình hàng ngày của Gazprom từ 1-15/4 giảm 4,3% so với tháng 4/2021.

Bộ Năng lượng LB Nga đã dừng công bố chính thức thông tin khai thác dầu khí, theo nguồn Reuters, sản lượng khai thác dầu thô 2 tuần đầu tháng 4 có dấu hiệu sụt giảm khá sâu, trung bình -810.000 bpd. Đáng chú ý, tốc độ sụt giảm tăng, tuần đầu tiên tháng 4 mới chỉ giảm khoảng -450.000 bpd xuống 10,2 triệu bpd, những ngày cuối tuần thứ hai sản lượng đã giảm xuống chỉ còn 9,76 triệu bpd – mức thấp nhất kể từ 2020. Rosneft phải cắt giảm -15% sản lượng, khai thác 2,9 triệu bpd.

Chính phủ LB Nga quyết định tạm thời nới lỏng hạn chế xuất khẩu phân bón đến 31/05 nhằm hỗ trợ các nhà sản xuất trong giai đoạn nhu cầu tiêu thụ nội địa ở mức thấp điểm, theo đó, tổng hạn ngạch xuất khẩu tăng thêm +700.000 tấn, bao gồm 231.000 tấn phân đạm và 466.000 tấn phân phức hợp. Như vậy, LB Nga sẽ cung cấp ra thị trường thế giới tổng cộng 5,7 triệu tấn phân đạm và 5,6 triệu tấn phân phức hợp.

Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody’s dự báo sẽ công nhận LB Nga vỡ nợ vào ngày 04/05 tới, đúng 30 ngày sau khi bộ Tài chính không thể thanh toán 650 triệu gốc và lãi trái phiếu bằng USD, thay vào đó là chuyển vào tài khoản RUB đặc biệt. Bộ Tài chính LB Nga cho biết sẽ khiếu kiện đến cùng nếu bị tuyên bố vỡ nợ, bởi chính phủ đã cố gắng thực hiện nghĩa vụ đúng theo hợp đồng phát hành trái phiếu, nhưng ngân hàng đầu mối (JP Morgan) đã từ chối thi hành ủy nhiệm chi.

TT Putin đã ký đạo luật cho phép thiết lập biểu giá cho việc trung chuyển LNG tại các bến Novatek bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, thanh toán các dịch vụ này sẽ phải được thực hiện bằng RUB. Luật này nhằm giảm rủi ro thanh toán khi phát triển sản xuất LNG ở vùng Bắc Cực của Liên bang Nga.

Mỏ Samotlor thuộc tỉnh Khanty-Mansi đã cạn kiệt tới 70%. Đây là 1 trong 10 mỏ lớn nhất nước Nga. Một trong những nhiệm vụ chính của ngành công nghiệp dầu mỏ Nga là thăm dò các nguồn hydrocacbon mới. Mỏ Samotlor nằm ở vùng Nizhnevartovsk với trữ lượng dầu ước tính khoảng 7,1 tỷ tấn. Khai thác công nghiệp đã được thực hiện từ năm 1969.

GIÁ DẦU

Giá dầu Brent (tháng 06/22) trong tuần giao dịch từ ngày 11/04-15/04 biến động trong biên độ 97,8 – 112 USD/thùng, đóng cửa ở mức cao nhất 111,8 USD/thùng (+11,3%/tuần) bất chấp tồn kho thương mại Mỹ tăng hơn 9 triệu thùng/tuần, sản lượng khai thác Mỹ bình quân năm 2022 dự báo tăng 0,4-0,6 triệu bpd.

Sau khi để mất mốc 98 USD/thùng trong phiên giao dịch đầu tuần vừa qua dưới tác động dịch bệnh bùng phát mạnh tại Trung Quốc (>29.000 ca/ngày) có thể dẫn đến suy giảm nhu cầu tiêu thụ 1,2-1,3 triệu bpd và quyết định bán 240 triệu thùng từ nguồn SPR của các thành viên IEA, giá dầu thế giới đã quay đầu tăng trở lại. Brent tăng liên tục 4 phiên lên 112 USD/thùng bất chấp nhu cầu tiêu thụ dự báo giảm -0,5 triệu xuống 100,5 triệu bpd (OPEC), đồng USD tăng giá mạnh so với rổ ngoại tệ sau động thái chuẩn bị tăng LSCB 50 điểm và thu hẹp gói hỗ trợ thanh khoản (QE) từ phía Fed (Dollar index vượt 100,3 điểm).

Các nhà đầu tư đang lo ngại về khả năng cắt giảm nguồn cung LB Nga, trong ngắn hạn do cấm vận nhập khẩu Mỹ/Anh và EU đang thảo luận áp dụng sau bầu cử Tổng thống Pháp (24/04), trong dài hạn do hạn chế đầu tư, xuất khẩu thiết bị/công nghệ.