Bản tin năng lượng 14/04

THỊ TRƯỜNG

Bộ Năng lượng Đức đang tiến hành phối hợp với bộ khác nhằm sửa đổi luật An ninh Năng lượng thông qua năm 1975, cho phép Chính phủ tịch thu hoặc chuyển giao quyền điều hành cac cơ sở năng lượng quan trọng trong trường hợp khẩn cấp. Động thái này khá quan trọng đối với Rosneft, công ty sở hữu 12% công suất tinh chế Đức, tương đương 12,8 triệu tấn/năm và cung cấp tới 25% lượng dầu thô nhập khẩu. Thông qua công ty con Rosneft Deutschland GmbH, Rosneft gần như sở hữu toàn bộ nhà máy lọc dầu lớn nhất Đức – Schwedt.

Vào tháng 3, Gazprom cũng đã bất ngờ tuyên bố thoái hoàn toàn vốn tại công ty con Gazprom Germania GmbH, nhưng Chính phủ không công nhận giao dịch và tiếp quản lại doanh nghiệp. Cần lưu ý, sau động thái này, Đức không còn hợp đồng cung cấp khí đốt nào có hiệu lực với Gazprom, bởi đều được ký với công ty con Gazprom Germania GmbH. Ngoài ra, quyền điều hành và nghĩa vụ bảo quản, bơm đầy khi đốt vào kho ngầm, trong đó có kho lớn nhất Reden (dung tích 3,9 tỷ m3 nhưng chỉ co 1% khí) cũng được chuyển giao cho phia Đức. Như vậy, nếu các công ty Đức muốn tiếp tục nhập khẩu khí đốt sẽ phải ký kết hợp đồng mới, trực tiếp với Gazprom – theo phương thức thanh toán mới, bằng RUB. Đức trên thực tế không còn lý do vin vào điều khoản hợp đồng đang có hiệu lực để từ chối yêu cầu Gazprom. Những ngày gần đây, xuất khẩu khí đốt Gazprom sang EU qua Ukraine đang co dấu hiệu sụt giảm đáng kể xuống còn 75 triệu m3/ngày so với đỉnh điểm 109 triệu m3/ngày cuối tháng 3 khi thời tiết còn khá lạnh. Đại diện Gazprom khẳng định vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng và cung cấp đủ khối lượng theo yêu cầu khách hàng.

Lệnh cấm nhập khẩu than LB Nga có hiệu lực thi hành từ tháng 8/2022 sẽ ảnh hưởng đến 70% khối lượng than nhiệt EU, điều này đồng nghĩa với việc giá điện tăng, cũng như rủi ro thiếu hụt năng lượng đặc biệt khi công suất xuất khẩu than thay thế từ Úc, Indonesia đã đạt ngưỡng trần.

Ngày càng nhiều thành viên EU nói về gói biện pháp trừng phạt thứ 6 đang được khối này chuẩn bị kỹ lưỡng, có thể bao gồm cả cấm vận dầu mỏ LB Nga. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn nhiều quốc gia phụ thuộc vào năng lượng LB Nga, đồng thời phản đối thắt chặn thêm trừng phạt bởi không thể nhanh chóng tìm được nguồn thay thế (Đức, Hungary).

Đức tiếp tục đóng cửa nhà máy điện nguyên tử theo kế hoạch bất chấp rủi ro thiếu hụt năng lượng liên quan đến chính sách cấm vận hydrocarbon LB Nga. E.ON – tập đoàn năng lượng lớn nhất đất nước cho biết, sẽ không gia hạn hoạt động nhà máy điện hạt nhân Isar-2 (Bavaria) sau năm 2022. Mặc dù về mặt kỹ thuật có thể thực hiện được, nhưng yếu tố an toàn môi trường vẫn đứng hàng đầu. Đối với Đức, năng lượng hạt nhân đã kết thúc. Hồi tháng đầu năm 2022, 3 trên 6 nhà máy điện hạt nhân cuối cùng đã được ngắt kết nối khỏi mạng lưới điện quốc gia.

Chính phủ Đan Mạch công bố kế hoạch chuyển 400.000 hộ gia đình đang sử dụng khí đốt sang các nguồn NLTT khác nhằm từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn cung khí đốt LB Nga, tuy nhiên, không đưa ra con số chi phí cụ thể. Hiện Đan Mạch phụ thuộc khoảng 35% vào nhập khẩu khí đốt Gazprom.

CNOOC (Trung Quốc) đang tích cực tìm kiếm cơ hội rút lui khỏi thị trường Phương Tây (Anh, Mỹ, Canada), tăng cường hoạt động tại khu vực Mỹ Latinh, châu Phi (Brazil, Guyana và Uganda) do lo ngại bị trừng phạt. Công ty đã thuê ngân hàng Bank of America tư vấn chuẩn bị thủ tục bán tài sản khai thác tại biển Bắc, vịnh Mexico và dầu cát Canada với tổng sản lượng khoảng 220.000 boed trong khuôn khổ chuẩn bị IPO sàn Thượng Hải sau khi bị hủy niêm yết NYSE cuối năm ngoái.

DẦU THÔ

OPEC trong báo cáo thị trường tháng 4 (MOMR) giảm -0,5 triệu bpd tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu thô thế giới năm 2022 xuống còn 100,5 triệu bpd, chủ yếu do bất ổn địa chính trị và dịch bệnh bùng phát tại Trung Quốc, nhưng vẫn cao hơn khoảng 300.000 bpd so với đỉnh điểm trước Covid-19. Triển vọng tăng trưởng nguồn cung thế giới cũng giảm đáng kể, trong tháng 3, OPEC chỉ tăng được 57.000 bpd lên 28,56 triệu bpd, tỷ lệ tuân thủ hạn ngạch OPEC+ tăng lên tới 151% (khai thác thấp hơn kế hoạch -822.000 bpd).

Sản lượng khai thác ngoài khối OPEC cả năm 2022 cũng sẽ chỉ đạt 66,3 triệu bpd (giảm -330.000 bpd so với dự báo tăng 3 triệu trước đó), trong đó, LB Nga tăng được khoảng 430.000 bpd lên 11,23 triệu bpd, Mỹ tăng 1,3 triệu bpd. Đáng chú ý, tồn kho dầu thô và sản phẩm dầu mỏ OECD tháng 2 (trước khi công bố can thiệp thị trường quy mô 240 triệu thùng) tiếp tục giảm -22,8 triệu thùng xuống thấp hơn trung bình 5 năm – 334 triệu thùng.

Các công ty dầu khí LB Nga đã nhanh chóng thích nghi với điều kiện trừng phạt mới từ phía Phương Tây – thay đổi quá trình logistic và phục hồi hoàn toàn khối lượng xuất khẩu dầu thô đường biển về mốc 4 triệu bpd sau đợt sụt giảm tạm thời trong tháng 3 vừa qua. Mặc dù mức chiết khấu dầu Urals vẫn đang ở mức cao (-27 USD/thùng), nhưng đã giảm đáng kể so với đỉnh điểm -32–35 USD/thùng. Đáng lưu ý, các nhà máy lọc dầu Mỹ/EU sẽ hoạt động ra sao khi phần lớn nguồn cung dầu nặng, mazut LB Nga đã được chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường châu Á trong bối cảnh hạn chế nguồn cung dầu nặng nói chung khắp thế giới. Để giảm bớt chi phí vận tải sang các thị trường xa xôi, sơ đồ chuyển hàng từ tàu cỡ Aframax sang siêu tanker (VLCC) ngày càng được áp dụng rộng rãi.

Nhập khẩu dầu thô Trung Quốc tháng 3 đã giảm -14% so với cùng kỳ năm 2021 xuống còn 10,06 triệu bpd (42,7 triệu tấn), con số này tiếp tục giảm tháng thứ 2 liên tiếp do dịch bệnh Covid-19 bùng phát diện rộng, nhiều thành phố sản xuất công nghiệp ít nhiều phải áp dụng biện pháp phòng dịch, ngoài ra, giá dầu thế giới tăng cao khiến lợi nhuận tinh chế giảm, cũng như nhiều nhà máy lọc dầu quốc doanh nghỉ bảo trì định kỳ (Sinopec). Tính chung trong quý I/2022, nhập khẩu dầu thô Trung Quốc giảm 890.000 bpd (-8%) so với cùng kỳ xuống còn 10,4 triệu bpd (127,9 triệu tấn). Nhập khẩu khí đốt nói chung giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối năm 2020, trong đó, LNG giảm 15% xuống còn 4,8 triệu tấn/tháng. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc tranh thủ bán thẳng những lô hàng đã ký sang châu Âu kiếm lời.

100 thành phố lớn Trung Quốc dưới đây sản xuất tới 70% GDP đã và đang phải ít nhiều áp dụng các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, cao nhất là level 4 – lockdown.

Sau cuộc điện đàm trực tuyến giữa Tổng thống J. Biden và Thủ tướng N. Modi, tập đoàn dầu khí quốc doanh lớn nhất Ấn Độ – Indian Oil Corporation (IOC) tuyên bố loại dầu Urals ra khỏi gói thầu cuối cùng, cũng như hàng loạt các loại dầu thô khác như Das, Eugene Island, Thunder Horse. Mỹ đang gây áp lực lên Ấn Độ yêu cầu nước này không tăng khối lượng nhập khẩu dầu thô, hạn chế mua vũ khí từ LB Nga. Trong quý I/2022, Ấn Độ đã mua 16 triệu thùng dầu thô LB Nga, bằng khối lượng cả năm 2021 (tương đương 1% nhu cầu nhập khẩu) với giá ưu đãi và không phải chịu bất cứ chi phí, rủi ro vận chuyển nào.

Vitol (Thụy Sĩ) – công ty thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới có kế hoạch cắt giảm hoạt động với dầu thô LB Nga bắt đầu từ quý II/2022, và nếu không có chỉ đạo gì mới, công ty sẽ chấm dứt hoàn toàn giao dịch vào cuối năm 2022. Trong khi đó, Shell nới lỏng hạn chế giao dịch dầu mỏ LB Nga, cho phép mua bán hỗn hợp dầu thô và diesel có tỷ lệ xuất xứ LB Nga dưới 49,99%.

KHÍ ĐỐT & LNG

Vận chuyển khí đốt qua Ukraine đang tăng trở lại. Theo Nhà điều hành GTS (Ukraine), đơn đặt bơm khí đốt của Nga sang châu Âu tại ngày 11/04 là 95 triệu m3, ngày 10/04 – 80,4 triệu m3. Khối lượng vận chuyển tại thời điểm cao nhất là 109 triệu m3/ngày. Đường ống dẫn khí Yamal-Europe ở đoạn giữa Đức và Ba Lan đã liên tục hoạt động ở chế độ reverse kể từ 07/04. Theo nhà điều hành Gascade, dòng khí đốt được chuyển ngược từ Đức về Ba Lan đã tăng lên mức 0,7 triệu m3/h. Ba Lan tăng cường mua khí theo reverse do giá giao ngay là 1157 USD/1000m3 so với giá dài hạn – 1400 USD/1000m3. Điều này tiếp tục giữ giá khí châu Âu ở mức cao. Mức độ lấp đầy UGS ở châu Âu đang tăng chậm ở mức +0,19%/ngày.

Chi phí nhập khẩu khí đốt EU năm 2021 đã tăng hơn gấp 3 lần so với năm 2020 lên 121 tỷ EUR, trong khi khối lượng chỉ tăng nhẹ 3% lên 337 tỷ m3.

Nhật Bản kêu gọi các công ty tăng cường tích trữ khí đốt và không bán LNG ra nước ngoài nhằm đối phó với rủi ro LB Nga ngừng cung cấp khí đốt. Hiện mức tồn kho LNG đang cao hơn 10% so với cùng kỳ năm 2021. Mặc dù chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố không rút khỏi dự án Sakhalin LNG, cũng như Artic LNG 2, tuy nhiên, với việc Nhật Bản tham gia trừng phạt kinh tế (phong tỏa dự trữ ngoại hối, hạn chế XNK, cấm vận than đá), LB Nga hoàn toàn có khả năng yêu cầu thanh toán khí đốt (LNG) bằng RUB hoặc dừng cấp hàng. Nhật Bản hiện phụ thuộc khoảng 9% vào LNG LB Nga, nhưng khác với hệ thống kho ngầm EU (UGS), công suất kho chứa nước này chỉ đủ đảm bảo cho nhu cầu tiêu thụ trong 3 tuần, do vậy, Nhật Bản cần nguồn cung cấp liên tục.

LB NGA

Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo GDP LB Nga năm 2022 sẽ sụt giảm 11,2% (dự báo bộ Kinh tế giảm hơn -10%) bởi các lệnh trừng phạt khắc hà chưa từng có tiền lệ từ phía Phương Tây liên quan đến chiến dịch quân sự tại Ukraine, nơi quy mô kinh tế được dự báo sụt giảm tới -45,1% trong năm nay. Các con số dự báo trên chưa phải là cuối cùng và phụ thuộc vào thời gian kết thúc chiến sự, tuy nhiên, với việc EU/Mỹ tăng cường viện trợ vũ khí (hạng nặng), xung đột LB Nga – Ukraine chưa thể sớm có hồi kết. Bên cạnh đó, WB dự báo lạm phát (CPI) tại LB Nga sẽ tăng từ 9% lên 22% vào cuối năm 2022, kim ngạch XNK giảm 31-35%. 

Mặc dù vậy, kinh tế LB Nga sẽ tăng trưởng trở lại ngay sau năm nay, với tốc độ +0,6% và 1,3% trong giai đoạn 2023-2024. Thặng dư cán cân thương mại quý I/2022 LB Nga tăng 2,6 lần so với cùng kỳ năm 2021 lên 66,3 tỷ USD do nhập khẩu hạn chế, đồng thời, lượng vốn rút khỏi thị trường LB Nga cũng tăng 3,7 lần lên 64,2 tỷ USD.

Không chỉ riêng LB Nga, kinh tế Mỹ cũng đang phải hứng chịu ảnh hưởng của những lệnh cấm vận của chính mình, chỉ số lạm phát giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 đã tăng lên mức 8,5%/năm cao nhất trong vòng 4 thập kỷ. Chỉ số lạm phát lõi (Core CPI) không bao gồm năng lượng và thực phẩm tăng 6,5%/năm. Cùng kỳ, lạm phát Đức, Anh đều trên 7%/năm – cao nhất kể từ cuối thập kỷ 90-x.

Một trong những biện pháp trong gói trừng phạt kinh tế LB Nga thứ 5 của EU là cấm cung cấp thiết bị cho các nhà máy LNG (lần đầu tiên được áp dụng), điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ 2 dự án đang được xây dựng: Arctic LNG-2 (19,8 triệu tấn của Novatek) và Baltic LNG (Gazprom), cũng như chiến lược trở thành cường quốc sản xuất 140 triệu tấn LNG vào năm 2035 so với 28 triệu tấn/năm hiện nay. Lệnh cấm vận lần này áp dụng cho cả các hợp đồng đã ký và thanh toán đầy đủ, những hợp đồng này phải được chấm dứt trước ngày 27/05. Danh sách thiết bị cấm vận bao gồm: hệ thống phân tách hydrocacbon trong quá trình sản xuất LNG, thiết bị trao đổi nhiệt, bơm cao áp. Hầu hết thiết bị sản xuất LNG quy mô lớn đều được sản xuất tại các quốc gia “không thân thiện”, xét về quy mô trừng phạt lĩnh vực công nghệ, tài chính, LB Nga hiện tương đồng Iran, nơi 3 dự án LNG tổng công suất 37 triệu tấn vẫn đang trong trạng thái đóng băng kể từ khi Iran bị trừng phạt do chương trình hạt nhân.

NHTW LB Nga (CBR) cho biết, dòng tiền dầu khí thu về trong tháng 3 đã giảm -47,8% so với bình quân quý IV/2021 (trước chiến dịch Ukraine), nguyên nhân chủ yếu là do khó khăn trong khâu thanh toán xuất khẩu, tiền bị treo tại các ngân hàng Phương Tây. Trên thực tế, dòng tiền xuất khẩu dầu khí, cũng như giải ngân đầu tư dự án đã bắt đầu giảm từ tháng 1/2022 khi Phương Tây mới chỉ đe dọa áp lệnh trừng phạt LB Nga (tháng 2/2022 giảm – -29,6%). Tình trạng sụt giảm doanh thu tương tự được CBR ghi nhận hồi đầu đại dịch Covid-19 (tháng 5/2020), khi giá dầu thế giới ở mức thấp kỷ lục.

Sản lượng khai thác dầu khí Novatek quý I/2022 tiếp tục tăng +1,2% so với cùng kỳ năm 2021 lên 160 triệu boe, bao gồm 20,6 tỷ m3 khí đốt (+2,4%) và 2,95 triệu tấn hydrocarbon lỏng (-5,6%). Lượng khí đốt bán ra thị trường giảm nhẹ -0,9% xuống 21,23 tỷ m3, bao gồm 1,9 tỷ m3 LNG xuất khẩu (-1%).

LB Nga đang xem xét khả năng xây dựng cơ sở chứa dầu thô, khí đốt ngầm trên cơ sở các mỏ cạn kiệt hoặc vùng trầm tích mặn nhằm tích trữ dầu khí trong trường hợp xuất khẩu bị đình trệ. Dự kiến thời gian hoàn tất 5-6 năm.

Liên minh châu Âu đưa ra lệnh trừng phạt nhạy cảm đầu tiên đối với ngành điện, cấm nhập khẩu phụ tùng thay thế cho tua bin hơi nước và nồi hơi vào Nga, vốn có thể trở thành vấn đề đối với việc sửa chữa các nhà máy nhiệt điện chu trình hỗn hợp mới. Các nhà phân tích ước tính, hạn chế có thể ảnh hưởng đến các nhà máy nhiệt điện có tổng công suất hơn 15 GW. Các biện pháp hạn chế mới của EU có thể gây khó khăn trong việc cung cấp phụ tùng sửa chữa các nhà máy điện khí tại Nga. Theo gói trừng phạt thứ 5, các nhà sản xuất điện của Nga sẽ không thể trực tiếp hoặc gián tiếp mua phụ tùng thay thế cho các tua-bin hơi nước và nồi hơi ở châu Âu. Việc giao hàng theo hợp đồng đã ký kết trước ngày 09/04 phải được thực hiện trước ngày 10/07. Các phụ tùng thay thế cho tuabin khí cỡ lớn (nhạy cảm hơn đối với ngành tạm thời) không bị hạn chế.

GIÁ DẦU

Giá dầu Brent (tháng 06/22) trong 3 ngày giao dịch đầu tuần từ 11/04-13/04 biến động trong biên độ 97,8 – 109 USD/thùng, tại thời điểm 05h00 HN giao dịch ở mức 108,8 USD/thùng (+4%) bất chấp tồn kho thương mại Mỹ tăng hơn 9 triệu thùng/tuần.

Giá dầu thế giới tiếp tục biến động thất thường, mở đầu tuần giao dịch dưới tác động dịch bệnh bùng phát mạnh tại Trung Quốc có thể dẫn đến suy giảm nhu cầu tiêu thụ 1,2-1,3 triệu bpd và quyết định bán 240 triệu thùng từ nguồn SPR, Brent có thời điểm giảm trên -5% xuống dưới 98 USD/thùng. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng nhu cầu dầu thô thế giới do bất ổn địa chính trị, dịch bệnh được OPEC dự báo giảm -0,5 triệu xuống 100,5 triệu bpd. Lạm phát cao cũng đang dấy lên lo ngại phản ứng thắt chặt chính sách tiền tệ từ phía Fed.

Ngược lại, giá dầu được hỗ trợ bởi khả năng gia tăng nguồn cung hạn chế, đặc biệt từ phía LB Nga và tồn kho OECD liên tục giảm.