Năng lượng quốc tế 11/04

THỊ TRƯỜNG

Theo đánh giá của Rystad Energy, giá dầu, khí đốt và điện tăng cùng với các mục tiêu của EU nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp của Nga và lạm phát sau Covid-19 sẽ đẩy chi tiêu năng lượng toàn cầu lên 2,1 nghìn tỷ USD trong năm nay. Chi tiêu cho hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí được dự báo sẽ tăng 16%, tương đương 142 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Đối với năng lượng xanh, vào năm 2022, dựa trên danh sách các dự án hiện tại, công suất toàn cầu sẽ tăng 250 GW từ gió và mặt trời (tương ứng 140 và 110 GW), và chi tiêu cho năng lượng xanh sẽ tăng 24%, tương đương 125 tỷ USD. Lĩnh vực khí đốt và LNG cũng tăng trưởng mạnh với chi phí tăng 15%. Ngoài ra, yếu tố chính đẩy chi phí năng lượng lên mức cao mới là lạm phát toàn cầu về giá nguyên liệu, chi phí lao động và giá vận chuyển do đại dịch gây ra và các lệnh trừng phạt LB Nga. So với mức năm 2020, chi phí của các dự án trong ngành dầu khí tăng 10-20%, chủ yếu do giá thép tăng. Về năng lượng tái tạo, lithium, niken, đồng và polysilicon, là những nguyên liệu quan trọng để sản xuất pin và pin mặt trời quang điện, đã làm tăng chi phí của các dự án năng lượng tái tạo lên 10-35%.

Chỉ số hoạt động kinh tế toàn cầu Global Composite PMI tháng 3 vẫn duy trì được mốc 52,7 điểm, giảm -0,8 so với tháng 2, tuy nhiên, xu hướng đi xuống thể hiện rõ ràng hơn – chỉ số sản xuất công nghiệp Manufacturing giảm -0,7 xuống còn 53 điểm, dịch vụ giảm -0,4 xuống còn 54 điểm.

DẦU THÔ

Theo đánh giá của Reuters, thế giới sẽ thiếu hụt 5 triệu bpd. Hãng tin cho rằng, các vấn đề của một số nhà sản xuất dầu trên thế giới do các nguyên nhân khách quan không cho phép tăng ngay sản lượng trong tháng tới, điều này có thể khiến nền kinh tế toàn cầu mất đi 5 triệu bpd trong năm 2022. IEA tin rằng, các lệnh trừng phạt đối với Moscow và “vết đen” đối với hydrocacbon của Nga ở phương Tây, sẽ khiến sản lượng khai thác ở Liên bang Nga giảm 3 triệu bpd trong tháng 4 này. Nếu trước đây, Nga xuất khẩu khoảng 5 triệu bpd, thì 2 triệu bpd sẽ biến mất khỏi thị trường thế giới. Iran hiện đang khai thác 2,6 triệu bpd, thấp hơn gần 1,2 triệu bpd so với năm 2018 do Mỹ chưa dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với Tehran. 

Ngoài ra, do ảnh hưởng của cơn bão, Kazakhstan đã giảm dự báo sản lượng dầu trong năm nay là 0,3 triệu bpd. Libya cũng sẽ giảm sản lượng trong năm 2022 (1,3 triệu bpd thay vì 1,6 triệu bpd) kể từ khi các hoạt động vũ trang tiếp tục xảy ra vào tháng 3. Iraq đã cung cấp 4,15 triệu bpd trong tháng 3, thấp hơn 222 nghìn so với hạn ngạch sản xuất của nước này theo thỏa thuận OPEC+ do một số khu mỏ ở phía nam bị đình chỉ hoạt động. Sản lượng Nigeria sản lượng tháng 04 thấp hơn 0,1 triệu bpd  so với hạn ngạch OPEC cho phép. Các vấn đề cũ vẫn tồn tại như trước đây: trộm cắp và phá hoại trên đường ống dẫn dầu (Byelsa). Khác với những trường hợp khác, các nhà tiêu dùng phương tây tự từ chối các nguồn cung cấp từ Nga và Iran.

Cảng xuất khẩu dầu thô Liên hiệp đường ống Caspi (CPC) của Kazakhstan ngoài khơi bờ Biển Đen đã trở lại hoạt động bình thường sau 10 ngày tạm dừng hoàn toàn do bão lớn và thời tiết xấu liên tục. Việc đình trệ vận chuyển dầu Kazakhstan qua đường ống CPC từ 1,2 triệu đến 1,4 triệu thùng dầu thô mỗi ngày đã gây thêm áp lực cho thị trường toàn cầu vốn đang phải vật lộn với nguồn cung thắt chặt bị hạn chế bởi các lệnh trừng phạt đối với dầu thô của Nga. Đường ống CPC vận chuyển dầu từ mỏ dầu Tengiz của Kazakstan để đưa vào các cơ sở hạ tầng dọc theo bờ Biển Đen. Phần lớn dầu thô được vận chuyển bằng đường ống CPC thuộc về Nga, Kazakstan và các công ty dầu khí quốc tế như Chevron. CPC vốn là huyết mạch dầu thô quan trọng của Kazakstan, chiếm 2/3 lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước.

Kazakhstan vào tuần trước cho biết, nước này có thể mất khoảng 320.000 bpd sản lượng trong tháng 4 do sự cố trên đường ống CPC. Việc gián đoạn xuất khẩu từ Kazakhstan càng thắt chặt nguồn cung dầu toàn cầu vốn đã eo hẹp. Tuần trước, Hiệp hội Đường ống Caspian cho biết việc sửa chữa hai nhà ga của Cảng hàng hải CPC sẽ mất ít nhất 3-4 tuần. Dầu thô xuất khẩu từ Kazakhstan chủ yếu thông qua hệ thống CPC đi qua Nga, vận chuyển dầu thô được khai thác tại Kazakhstan đến cảng Novorossiysk của Nga ở Biển Đen. Một lượng dầu thô được khai thác tại Nga cũng được vận chuyển theo đường ống này, nhưng chỉ chiếm khoảng 10% lượng dầu thô xuất khẩu.

Các công ty năng lượng châu Âu đang tìm giải pháp để mua dầu của Nga. Một trong những giải pháp đã xuất hiện trên thị trường là việc tạo ra cái gọi là loại dầu “Latvia hỗn hợp”. Theo Bloomberg tham khảo các nguồn tin, công ty dầu lớn nhất châu Âu Shell đã đưa ra một giải pháp, cho phép cung cấp năng lượng của Nga cho châu Âu. Nếu nói về việc trộn dầu vận chuyển hàng hóa từ các nguồn khác nhau, theo Shell, nếu hàng hóa chứa 49,99% hydrocacbon từ Nga và phần còn lại từ các nguồn khác thì về mặt kỹ thuật, nó không được coi là có nguồn gốc từ Nga. Blending là một công cụ rất tiện dụng đối với EU, cho phép các bên công khai nói về việc từ chối dầu từ Nga, nhưng trên thực tế lại được giao dịch khá tích cực. 

Theo các nguồn của Bloomberg, Shell thậm chí đã sửa đổi các điều khoản trong hợp đồng của mình. “Hàng hóa được coi là sản xuất tại Liên bang Nga nếu chúng được sản xuất tại Liên bang Nga hoặc nếu thành phần của chúng (theo khối lượng) bao gồm 50% nguyên liệu hoặc nhiều hơn, được sản xuất tại Liên bang Nga”. Thông thường các chuyến hàng đi từ Primorsk đến Ventspils, một cảng của Latvia có tổ hợp chứa dầu lớn. Tại đây các loại dầu được trộn với nhau, do đó, nó được coi là bất kỳ hỗn hợp nào có chứa hydrocacbon của Nga. Và đây là cách kinh doanh theo kiểu Châu Âu.

Bất chấp các lệnh cấm vận hà khắc chưa từng có tiền lệ, các nhà sản xuất dầu khí LB Nga vẫn tìm được khách mua hàng với mức chiết khấu hấp dẫn. Trong tháng 3, khối lượng xuất khẩu đường biển tăng khá mạnh so với tháng 2 lên gần 1,75 triệu bpd. Mới đây, những lô hàng dầu Sokol dự án Sakhalin-1 giao tháng 5 đã tìm được khách tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ. 

Surgutneftegaz (Nga) đã bán một số lô hàng tàu chở dầu trên thị trường giao ngay cho trader quốc tế của LUKOIL, Litasco. Một số lô hàng 100.000 tấn có thể sẽ được đưa lên tàu chở dầu VLCC có trọng tải lên đến 320.000 tấn và xuất sang thị trường châu Á, có thể điểm đến là Trung Quốc. Theo nguồn tin, bản thân các công ty Trung Quốc đã không mua dầu của Nga tại các cảng Baltic vào tháng 4, trong khi trước đó đã từng có giao dịch vào tháng 3. Trafigura đã mua hai tàu chở dầu từ Surgutneftegaz trong tháng 4. Theo lịch trình của cảng, Surgutneftegaz có kế hoạch bán 18 lô 100.000 tấn từ các cảng Baltic. 

Sau khi Surgutneftegaz thực hiện bán không thành công 01 lô duy nhất trong các cuộc đấu thầu thông thường vào tháng 03, dầu hiện được bán thông qua các cuộc đàm phán trực tiếp với người mua. Kể từ tháng 3, các ngân hàng đã không mở LC cho các công ty Nga để thanh toán các hợp đồng cung cấp dầu. Các khách hàng chính mua dầu thô xuất khẩu của Surgutneftegaz trong tháng 4, ngoài Litasco, sẽ là Unipec của Trung Quốc. Tính đến ngày 07/04, Litasco đã mua ít nhất 5 lô hàng Urals từ Surgutneftegaz ở Baltic với khối lượng 100.000 tấn. 

Mỹ tăng cường mua dầu nhiên liệu ở Mỹ Latinh trong bối cảnh nguồn cung từ Nga giảm. Khối lượng dầu nhiên liệu kỷ lục đã được Mỹ mua tại Mỹ Latinh trong tháng 3. Các nhà máy lọc dầu của Mỹ đang tích cực tìm kiếm nguồn thay thế cho nguyên liệu thô của Nga khi lô cuối cùng sẽ cập cảng Mỹ ngày 22/04. Theo thống kê của cơ quan hải quan, Mỹ đã nhập khẩu 524.400 thùng dầu nhiên liệu mỗi ngày vào năm 2021, và trong số này, nguồn cung từ Nga chiếm khoảng 25%. Tháng trước, tỷ trọng khối lượng giao hàng của Nga đã giảm xuống 20%, trong khi thị phần giao hàng từ Mỹ Latinh tăng từ 20% lên 50% và Trung Đông – từ 5% lên 17%. Mexico – quốc gia gia tăng xuất khẩu dầu nhiên liệu liên tục  trong ba năm qua, chiếm 26% lượng nhiên liệu nhập khẩu của Mỹ trong tháng 3, tăng từ mức 18% vào năm 2021.

Mỹ dự định sẽ sớm tổ chức các cuộc tiếp xúc với Trung Quốc về tình hình xung quanh Ukraine và các biện pháp trừng phạt chống lại Nga, nhưng vẫn chưa sẵn sàng tiết lộ cuộc đối thoại này sẽ diễn ra như thế nào. Mỹ kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến Trung Quốc nhằm tuận thủ các lệnh trừng phạt chống lại Nga và không hỗ trợ vật chất cho Nga. Bên cạnh đó, Mỹ cảnh báo Ấn Độ về hậu quả đáng kể nếu tiếp tục mua dầu thô LB Nga với khối lượng lớn, cũng như thiết bị quân sự. Kể từ ngày 24/02, các công ty dầu khí Ấn Độ đã mua 16 triệu thùng dầu Urals (310.000 bpd) với mức chiết khấu hấp dẫn (có lô tới -35 USD/thùng so với Brent), tương đương khối lượng nhập khẩu cả năm 2021. Gần đây nhất, Bharat Petroleum đặt mua 2 triệu thùng Urals giao hàng tháng 5 theo điều kiện CIF – không chịu bất cứ chi phí, rủi ro vận chuyển nào. Nhu cầu dầu thô Ấn Độ năm 2022 dự báo sẽ tăng 8,2% so với năm 2021 lên mức kỷ lục – 5,15 triệu bpd.

Giá thuê tàu chở dầu ngày càng đắt đỏ do việc từ chối sử dụng hạm đội Nga. Giá cước vận chuyển của các tàu chở dầu sạch tại Vịnh Mexico đã tăng 20-40% kể từ ngày 05/04. Các nhà kinh doanh/vận tải đang tránh xa Sovcomflot (thuộc sở hữu của nhà nước Nga), công ty sở hữu đội tàu chở dầu cỡ nhỏ Aframax lớn nhất thế giới. Do đó, nhu cầu thuê những tàu chở dầu hạng VLCC khổng lồ, vốn đang cố gắng lấp đầy sự thiếu hụt Aframax, cũng đang tăng mạnh. Tất cả điều này làm tăng giá nhiên liệu trên toàn thế giới. Chi phí vận chuyển các sản phẩm dầu tầm trung trên các tuyến đường liên vùng của Mỹ đã vượt quá đỉnh của đại dịch vào tháng 04/2020, khi 5% đội tàu chở dầu trên thế giới được sử dụng đơn giản để dự trữ dầu và nhiên liệu.

KHÍ & LNG

Theo Wood Mackenzy, nguồn cung từ Nga có thể giảm khoảng 25% là kịch bản thực tế nhất. Bất kỳ biện pháp trừng phạt bổ sung nào sẽ ảnh hưởng đến việc tăng khối lượng UGS của Châu Âu vào mùa hè khi khối lượng khí đốt đường ống Nga sẽ được thay thế bằng LNG. Các nhà phân tích đánh giá nhu cầu LNG của châu Âu sẽ tăng 17 triệu tấn, trong đó khoảng 10 triệu tấn sẽ được nhập từ Mỹ. Cho đến nay, nguồn LNG cho châu Âu đã được hỗ trợ bởi nhu cầu yếu ở châu Á. Khu vực này giảm 10% nhập khẩu LNG so với cùng kỳ năm ngoái trong quý I do thời tiết mùa đông ôn hòa hơn và việc sử dụng than và dầu tăng do giá LNG giao ngay tăng mạnh. Đông Bắc Á và Ấn Độ nhập khẩu ít hơn 7 triệu tấn LNG so với quý đầu tiên của năm 2021. Nhu cầu LNG ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ tổng cộng sẽ giảm 7 triệu tấn, nhập khẩu vào Đông Nam Á sẽ tăng, nhưng không nhiều. Câu hỏi duy nhất là về nhu cầu của Trung Quốc, nơi đang tăng cường nhập khẩu khí đốt từ Nga với giá cạnh tranh hơn. Cần lưu ý rằng nhu cầu về LNG ở châu Á sẽ tăng từ 270 triệu tấn vào năm 2022 lên hơn 300 triệu tấn vào năm 2025. Do đó, cạnh tranh về LNG sẽ ngày càng gay gắt và EU sẽ khó có thể cạnh tranh với thị trường châu Á một cách “hòa bình”.

EU đang phải trả giá đắt cho các lệnh trừng phạt của chính mình, chỉ riêng từ cuối tháng 2 đến nay, EU đã phải chi trả 35 tỷ EUR tiền nhập khẩu năng lượng LB Nga so với 99 tỷ EUR cho cả năm 2021. Số tiền nhập khẩu năm 2022 dự báo sẽ cao hơn nhiều so với năm ngoái, đặc biệt sau khi EU ra lệnh cấm nhập khẩu than đá có hiệu lực từ tháng 8 tới, trong điều kiện các nhà xuất khẩu lớn như Úc, Indonesia đều đã đạt ngưỡng tối đa công suất. Ngày 11/04, EU tiếp tục thảo luận về khả năng áp dụng lệnh cấm nhập khẩu dầu thô LB Nga.

Giá khí đốt ở Mỹ đạt mức cao kỷ lục trong 13 năm – 6,386 USD/MBTU. Dự trữ khí đốt tại Mỹ thấp hơn 19% so với mức trung bình trong 5 năm qua. Xuất khẩu LNG là nguyên nhân dẫn đến việc tăng giá trên thị trường nội địa và sự cạn kiệt của các cơ sở lưu trữ. Xuất khẩu LNG của Mỹ tăng 13% trong ba tháng từ tháng 11/2021 đến tháng 1/2022 so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng khí đốt tăng thấp hơn 5%. Xuất khẩu có thể còn tăng nhiều hơn trong tháng 2-3/2022. Giá khí nội địa Mỹ phần lớn vẫn độc lập so với thị trường thế giới, nhưng việc xuất khẩu LNG ngày càng tăng đang dần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với các thị trường ở châu Âu và châu Á. 

Trong khi Mỹ đang cố gắng gây áp lực ép EU loại bỏ khí đốt LB Nga, thay thế bằng LNG, tồn kho nhiên liệu này tại Mỹ tuần kết thúc ngày 01/04 tiếp tục giảm 85 triệu m3 xuống mức thấp nhất – 39,1 tỷ m3 do thời tiết lạnh, sản lượng khai thác giảm xuống còn 2,65 tỷ m3/ngày. Giá khí đốt tương lai (tháng 5) tại sàn giao dịch NYMEX tăng lên mức cao nhất kể từ cuối năm 2008 – 6,36 USD/MMBtu (225 USD/1000m3), tăng gần 80% so với đầu năm 2022.

UGS ở Đức đã được bơm đầy 26%, Gazprom đang chuẩn bị bơm khí tích cực trong 5-7 tháng tới. Theo Phó Thủ tướng Đức Robert Habeck, sẽ mất khoảng 150-200 ngày để lấp đầy hoàn toàn các USG dưới lòng đất. Bất chấp những nỗ lực của các nhà chức trách Đức nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ Liên bang Nga, chính quyền nước này vẫn phải sử dụng khí đốt của Nga để lấp đầy các USG của mình. Ông Habeck nói: “Đức có thể chịu được nếu không có khí đốt của Nga vào mùa xuân, mùa hè và mùa thu, nhưng vào mùa đông, các kho chứa sẽ trống rỗng và Đức cần có dự trữ để có thể vượt qua mùa đông tới”. Khó có thể dự đoán điều gì sẽ xảy ra trong sáu tháng tới với tình hình hiện tại, nhưng có điều rõ ràng, Nga có cơ hội nhận được siêu lợi nhuận từ dầu khí cho đến mùa thu và cơ hội xây dựng lại mô hình kinh tế trong điều kiện mới.

Vấn đề của châu Âu không phải là thiếu năng lực nhập khẩu khí đốt, mà là sự thắt chặt của các thị trường thế giới, ông Greig Aitken, nhà phân tích Global Energy Monitor cho biết. Châu Âu hiện đang tập trung tăng công suất nhập khẩu LNG, nhưng liệu EU có khả năng mua với giá cao không là câu hỏi được đặt ra. Theo Global Energy Monitor, EU đang xây dựng bốn nhà ga/mở rộng đầu cuối để nhập khẩu LNG với công suất 4,3 tỷ m3/năm với chi phí là 987 triệu euro. 26 trạm nhập khẩu LNG/mở rộng nhà ga được đề xuất xây dựng bổ sung sẽ tăng thêm 102,7 tỷ m3/năm với chi phí 11,3 tỷ euro. Con số này không bao gồm các kế hoạch được công bố gần đây của Estonia, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý và Hà Lan là sẽ xây dựng các kho chứa nổi và các FSRU, chưa kể đến sự phục hồi của hai trạm LNG đầu cuối tại Ý trước đây tạm ngưng hoạt động.

Phái đoàn từ Latvia, Estonia và các nhà ngoại giao Bulgaria, Estonia, Pháp, Đức, Hungary, Latvia, Anh đã gặp gỡ những lãnh đạo các công ty khí đá phiến tại Houston để thảo luận về khả năng tăng nguồn cung cấp khí đốt cho châu Âu, nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp khí đốt của Nga. Tại cuộc họp, đại diện các công ty đá phiến thông báo rằng việc tạo ra năng lực sản xuất LNG mới phải mất nhiều năm, do đó, nguồn cung cấp LNG quy mô lớn sẽ không được thực hiện sớm hơn năm 2025, và tất nhiên là cần nguồn đầu tư mới. Do Mỹ không có khả năng đảm bảo “độc lập khí đốt” của châu Âu khỏi Nga, thỏa thuận về quan hệ đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương đã từng sụp đổ. Vào năm 2016, khi vấn đề này trở nên gay gắt, Obama nói rằng Hoa Kỳ sẽ làm mọi thứ có thể, nhưng Liên minh châu Âu cũng nên dựa vào sức mạnh của chính mình.

Giải cứu châu Âu khỏi “sự ràng buộc” về khí đốt của Nga, phương Tây đang tự hình thành cuộc khủng hoảng năng lượng cấp tính nhất vào mùa thu-đông năm 2022. Hiện có tới 70% khối lượng LNG xuất khẩu của Mỹ, vốn chủ yếu dành cho châu Á – Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản được chuyển hướng đến các thị trường châu Âu. Tuy nhiên, nguồn cung LNG cũng không vì thế mà nhiều hơn. Dự trữ khí đốt vào cuối tháng 3 năm 2022 ở Nhật Bản gần với mức thấp nhất của tháng 12/2020. Chính trong mùa đông năm 2020, tình trạng thiếu khí đốt trầm trọng đã phát sinh ở Nhật Bản, Hàn Quốc và làm tăng giá khí đốt bất thường đầu tiên. 

Mùa đông không thể không đến và việc bơm vào các cơ sở lưu trữ phải bắt đầu ngay bây giờ, nhưng nếu không có giao hàng tại chỗ của Gazprom đến châu Âu, thì không thể đáp ứng nhu cầu khí đốt của cả châu Âu và châu Á. Các kho chứa khí đều trống rỗng ở tất cả các nước tiếp nhận và sẽ dẫn đến sự cạnh tranh về giá cho từng lô LNG. Giá của vấn đề đối với bên bên mua sẽ rất cao – làm sao dân không bị chết rét và giữ cho ngành công nghiệp không bị sụp đổ.

Thủ tướng Ý Mario Draghi dự kiến ​​sẽ thăm Algeria ngày 11/04 để ký một thỏa thuận tăng nguồn cung cấp khí đốt cho Ý thông qua đường ống dẫn khí đốt Transmed. Theo Reuters, nhập khẩu của Ý thông qua tuyến đường này đã tăng 76% trong năm ngoái lên 21,2 tỷ m3 và Ý hiện đang có kế hoạch tăng thêm 9 tỷ m3 khí đốt. Thỏa thuận sẽ bao gồm các khoản đầu tư chung vào các dự án phát triển năng lượng tái tạo.

Theo Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland, dự án đường ống EastMed – vận chuyển khí đốt tự nhiên từ các mỏ khí đốt ở phía đông Địa Trung Hải đến các thị trường châu Âu qua Hy Lạp và Ý sẽ mất quá nhiều thời gian và quá tốn kém. Theo ý kiến ​​của bà, mặc dù cần tìm nguồn cung cấp thay thế để giảm sự phụ thuộc vào khí đốt của Nga, nhưng đường ống này quá dài, nằm ở độ sâu lớn và việc xây dựng sẽ mất khoảng 10 năm. Liệu Mỹ có đang chặn hết nguồn cung cho cái gọi là “độc lập khí đốt” của châu Âu?

ĐIỆN

Pháp có thể giảm mua khí đốt của Nga thông qua việc hạn chế bắt buộc đối với ngành công nghiệp và người dân. Các nhà chức trách của đất nước có thể yêu cầu từ những người tiêu dùng lớn (trên 5 GWh/năm) giảm mức tiêu thụ khí đốt và/hoặc điện theo yêu cầu cụ thể. Các hạn chế có thể ảnh hưởng đến khoảng 5.000 nhà tiêu dùng lớn. Các nhà tiêu dùng lớn này không đáp ứng yêu cầu ngừng hoặc giảm tiêu thụ sẽ có thể bị phạt. Đối với hạn chế sử dụng điện, khi có yêu cầu, nhà tiêu dùng phải ngắt lưới điện trong vòng 2 giờ. Nếu các hạn chế về sử dụng điện không đủ cho các nhà tiêu dùng lớn nhất, chính quyền sẽ thực hiện chế độ cắt điện luân phiên cho khoảng 200.000 hộ gia đình một lúc trong 2 giờ.

Trung tâm Năng lượng EY đã công bố một số đánh giá về thị trường điện tháng 3: Tại Châu Âu, giá điện trung bình đạt mức cao nhất mọi thời đại vào tháng 3/2022 (tăng từ 350% lên 530% so với cùng kỳ năm ngoái ở một số quốc gia); Tình hình thị trường năng lượng trong khu vực đã ảnh hưởng đến tất cả các tầng lớp người tiêu dùng, từ những công dân bình thường đang nhận các hóa đơn điện nước ngày càng tăng cho đến các doanh nghiệp công nghiệp lớn, nơi có chi phí sản xuất tăng vọt; Giá điện tăng nhanh cũng ảnh hưởng đến lĩnh vực luyện kim ở Châu Âu, tỷ trọng chi phí năng lượng trong giá thành sản xuất kim loại màu cơ bản ở EU đạt 40%; Các nhà máy thép cũng đang chịu sức ép nghiêm trọng do giá điện tăng, sản xuất sử dụng lò điện hồ quang đòi hỏi nhiều điện hơn và sản xuất dựa trên lò cao phần lớn phụ thuộc vào nguyên liệu thô là than luyện cốc, đã tăng giá 65% kể từ đầu năm, và gấp 3,7 lần so với tháng 3/2021; Các nhà sản xuất thép cũng đang phải đối mặt với chi phí hợp kim tăng cao (ví dụ, giá niken đã tăng vọt 59% kể từ đầu tháng 1); Một số công ty đã bắt đầu nghĩ đến việc giảm hoặc thậm chí tạm dừng các hoạt động trong khu vực cho đến khi giá cả ổn định, ngay trong tháng 2, sản lượng thép ở EU giảm 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái và nhôm nguyên sinh ở các nước Trung và Đông Âu – giảm 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái (mức tối thiểu kể từ tháng 3 năm 1973).

LB NGA

Lukoil – công ty dầu khí ngành dọc sở hữu công suất tinh chế lớn thứ 2 LB Nga (43 triệu tấn/năm) sau Rosneft cho biết, do khó khăn trong khâu xuất khẩu sản phẩm dầu mỏ (mazut), công ty có thể sẽ phải cắt giảm cả khối lượng tinh chế lẫn sản lượng khai thác dầu thô. Riêng trong tháng 3 vừa qua, xuất khẩu mazut đã giảm 1,5 lần, tồn kho tăng 1,5 triệu tấn, dẫn đến thiếu hụt kho chứa. Với tình hình trên, Lukoil đề xuất chính phủ cho phép đốt mazut tại các nhà máy nhiệt điện, thay than đá và khí đốt nhằm giải phóng tồn kho nhằm duy trì hoạt động các nhà máy lọc dầu. Ngoài ra, Lukoil cũng đề xuất tạm hoãn thu phí phạt tác động môi trường liên quan đến đốt mazut và khí đồng hành, bởi LPG được sản xuất từ nguồn khí này cũng không thể xuất khẩu. Bộ Năng lượng LB Nga dự báo sản lượng khai thác dầu thô tháng 4 giảm 4-5%, ngày 07/04 tụt xuống còn 1,425 triệu tấn/ngày (10,44 triệu bpd).

Phó Thủ tướng phụ trách năng lượng LB Nga A. Novak cho biết, các công ty EU đang nghiên cứu khả năng thanh toán nhập khẩu khí đốt bằng RUB và đang có sự thay đổi rõ ràng trong cách tiếp cận yêu cầu sau khi Gazprom phát đi thông cáo, một số quốc gia đã đồng ý (Hungary, Serbia). Hungary cho rằng, việc thanh toán nhập khẩu khí đốt Gazprom bằng RUB không vi phạm lệnh trừng phạt EU, bởi Budapest và Moscow có hợp đồng 15 năm ký tháng 09/2021 với khối lượng 4,5 tỷ m3/năm, và ngoại tệ thanh toán chỉ là vấn đề kỹ thuật. Đồng thời, bộ Tài chính và NHTW đang triển khai phương án tăng nhanh khối lượng thanh toán xuất khẩu dầu thô, than đá sang Trung Quốc bằng CNY.

Ngay sau khi 7 NHTM LB Nga bị loại khỏi hệ thống thanh toán SWIFT, các doanh nghiệp Trung Quốc đã bắt đầu chuyển sang thực hiện giao dịch bằng CNY. Những lô hàng than đá, dầu thô ESPO thanh toán bằng CNY đầu tiên sẽ đến Trung Quốc vào tháng 5 tới. Bộ Tài chính LB Nga cho biết, làn sóng trừng phạt mới đang thúc đẩy các thành viên BRICS tạo ra hệ thống truyền tải thông tin tài chính riêng, cơ quan định giá độc lập (rating agencies), cũng như tích hợp hệ thống thanh toán và thẻ.

NHTW LB Nga (CBR) quyết định cắt giảm đột xuất -3% LSCB xuống còn 17%/năm sau khi tình hình kinh tế – tài chính dần ổn định trở lại, tỷ giá hối đoái giảm xuống quanh mốc 75-77 RUB/1 USD. CBR để ngỏ khả năng tiếp tục cắt giảm LSCB trong cuộc họp định kỳ cuối tháng 4 tới. Ngoài ra, kể từ ngày 11/04 CBR nới lỏng một số hạn chế ngoại tệ đối với cá nhân/tổ chức kinh tế không tham gia XNK như: cho phép rút USD/EUR mặt tương đương 10.000 USD/tháng từ tài khoản tiết kiệm mở trước ngày 09/03; xóa bỏ phí mua ngoại tệ trên sàn giao dịch – 12%.

Sau nhiều ngày thảo luận gay gắt, EU đã thông qua được gói trừng phạt thứ 5 kinh tế LB Nga, ngoài hạn chế giao thương đường biển/đường bộ, siết chặt đầu tư, xuất khẩu, cấm vận 4 ngân hàng còn bao gồm cả cấm nhập khẩu than đá. Nhưng Đức đề xuất áp dụng từ giữa tháng 8 để có thời gian thích ứng. Song song, nghị viện EU thông qua nghị quyết cấm vận toàn bộ dầu khí LB Nga với số phiếu thuận 513/554. Đáp trả, Quốc hội LB Nga đang có phương án đề xuất tạm dừng xuất khẩu khí đốt sang EU.

Những người nhập cư từ LB Nga sống ở EU ngày càng phải đối mặt với nhiều vấn đề khi làm dịch vụ tại các ngân hàng địa phương. Tài khoản và chuyển khoản của những người này bị chặn vô cớ. Các luật sư nhấn mạnh rằng không có cơ sở pháp lý để ngăn chặn hoàn toàn, nhưng các ngân hàng EU sợ khoản tiền phạt khổng lồ do không tuân thủ các lệnh trừng phạt đến mức họ kiểm tra kỹ lưỡng các khách hàng liên kết với Liên bang Nga. Trong số các nạn nhân có cả công dân LB Nga tạm trú tại EU bằng visa, thẻ xanh và cả những người đã nhận quốc tịch. Các ngân hàng thường bị người Nga phàn nàn nhất đều cho rằng họ hoạt động theo luật. Societe Generale cho biết, việc xác minh được thực hiện liên quan đến tư cách công dân, trong bối cảnh ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các luật và quy định hiện hành và thực hiện cẩn thận các biện pháp cần thiết để tuân thủ nghiêm ngặt các lệnh trừng phạt quốc tế.

PHÁT TRIỂN

Shell ước tính sẽ ghi nhận khoản thua lỗ 4-5 tỷ USD trong BCTC quý I/2022 liên quan đến quyết định rút lui khỏi thị trường LB Nga, thoái 27,5% vốn tại nhà may LNG Sakhalin-2 và 50% cổ phần tại 2 liên doanh với Gazpromneft (Salym Petroleum, Gydan Energy), chấm dứt các hợp đồng mua bán dầu khí, cũng như hệ thống cây xăng bán lẻ. 

China National Petroleum Corporation International có kế hoạch đầu tư phát triển ngành công nghiệp dầu khí Afghanistan dưới chính quyền Taliban. Ngoài tài nguyên dầu khí không mấy phong phú, Afghanistan sở hữu trữ lượng litium tiềm năng dồi dào nhất thế giới, song song với các kim loại màu như đồng, cobalt, niobi.

Chiến lược An ninh Năng lượng của UK được công bố 07/04 đặt mục tiêu tăng gấp ba công suất lắp đặt hạt nhân vào năm 2050 và đẩy nhanh kế hoạch lắp đặt các trang trại gió ngoài khơi mới trong thập kỷ này. Tài liệu cũng bao gồm các mục tiêu tham vọng hơn đối với hydro, năng lượng mặt trời và các biện pháp kích thích các dự án dầu khí ở Biển Bắc. Thủ tướng Johnson cho biết, điều này sẽ làm giảm sự phụ thuộc của UK vào các nguồn năng lượng chịu sự biến động giá cả toàn cầu mà nước này không thể kiểm soát. Tuy nhiên, tài liệu này ngay lập tức bị các nhóm bảo vệ khí hậu và các chính trị gia đối lập chỉ trích vì không làm hạ giá năng lượng và không làm đủ để kích thích các trang trại gió trên mặt đất, năng lượng mặt trời và cải thiện hiệu quả năng lượng.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Surrey đã đạt được tăng tỷ lệ hấp thụ năng lượng của các tấm quang điện mỏng lên 25%. Các tấm pin mặt trời có độ dày chỉ 1 micromet chuyển đổi ánh sáng thành điện năng hiệu quả hơn so với các thiết bị có độ dày tương tự với hàm lượng silicon giảm giúp tiết kiệm chi phí sản xuất. Các nhà khoa học đã mượn cách tiếp cận này từ thiên nhiên – trong thiết kế cánh của bướm và mắt của chim. Cấu trúc cho phép ánh sáng được hấp thụ từ mọi góc độ và bị mắc kẹt bên trong pin mặt trời, giúp tạo ra nhiều năng lượng hơn. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, nguyên mẫu đạt được độ hấp thụ 26,3 mA/cm2, tăng 25% so với kỷ lục trước đó là 19,72 mA/cm2 được thiết lập vào năm 2017. Hiệu suất đạt được là 21%, nhưng các nhà khoa học tin rằng họ sẽ có thể tăng đáng kể hiệu suất này trong tương lai. Về tiềm năng của phát minh, các tác giả đề xuất sử dụng nó trong ngành công nghiệp vũ trụ để tạo ra điện trên vệ tinh, trạm và tàu vũ trụ, cũng như cung cấp năng lượng cho các thiết bị IoT.

GIÁ DẦU

Giá dầu Brent (tháng 06/22) trong tuần giao dịch từ 04/04-08/04 biến động trong biên độ 98-109 USD/thùng, đóng cửa ở mức 102,4 USD/thùng.

Giá dầu thế giới tuần qua biến động trái chiều, nhưng chủ yếu giảm (có thời điểm xuống dưới mốc 100 USD/thùng) bởi nhiều yếu tố tác động tiêu cực: Mỹ cùng các thành viên IEA tuyên bố tung ra thị trường 240 triệu thùng dầu thô từ nguồn SPR trong vòng 6 tháng tới (2 triệu bpd); Covid bùng phát tại Trung Quốc, số ca nhiễm mới tăng lên trên 25.000/ngày; Fed có kế hoạch tăng LSCB 50 điểm trong tháng 5, đồng thời bắt đầu thu hẹp gói hỗ trợ thanh khoản (QE) với tốc độ 95 tỷ USD/tháng nhằm kiềm chế lạm phát; KSA muốn chấm dứt chiến tranh với Yemen với khả năng viện trợ phát triển 3 tỷ USD cho quốc gia này. Ở chiều ngược lại, giá dầu thế giới được hỗ trợ bởi nguồn cung hạn hẹp do thiếu hụt đầu tư, cấm vận LB Nga có thể dẫn đến sụt giảm khoảng 5 triệu bpd.

IEA xác nhận giải phóng 240 triệu thùng dầu từ các SPR cùng với Mỹ. Các quốc gia thành viên IEA cùng với Mỹ sẽ tung ra thị trường 240 triệu thùng dự trữ chiến lược trong vòng sáu tháng sau tuyên bố trên. SPR của các nước tham gia Cơ quan Năng lượng Quốc tế sẽ giảm 9% sau khi cung cấp dầu ra thị trường. Tuy nhiên, hiệu ứng của tuyên bố can thiệp vào thị trường với số lượng 240 triệu thùng dầu của các nước IEA đang tiêu tạn hay nói đúng hơn là nỗi lo của các trader về việc giảm nguồn cung từ Nga còn lớn hơn. Theo JPMorgan, sản lượng dầu ở Nga có dấu hiệu suy giảm sớm. Theo các chuyên gia của JPMorgan, sản lượng ở Nga đã giảm xuống 10,6 triệu bpd so với mức trung bình là 11 triệu bpd trong tháng 3.

Theo chúng tôi nhận định, đến cuối tuần này,

giá Brent sẽ giao động trong biên độ 90 – 110 USD/thùng.

PHÂN TÍCH

Sản lượng dầu tại Nga dự kiến giảm

Các chuyên gia của trang tin Vedomosti mới đây đã có bài viết đánh giá xoay quanh việc Phó Thủ tướng Nga A.Novak nhận định, sản lượng khai thác dầu tại Nga trong tháng 4/2022 sẽ giảm 4-5% so với tháng trước đó. 

Ông A.Novak cho biết, việc sụt giảm sản lượng xuất phát từ những thay đổi trong hậu cần sau các vấn đề với nguồn cung dầu cho EU và Mỹ, cũng như các vấn đề có thể xảy ra với hoạt động bảo hiểm và sử dụng tàu để vận chuyển hàng hóa. Ông Novak cũng nhấn mạnh, việc giảm sản xuất dầu do chính các công ty quyết định. Bên cạnh đó, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị, vấn đề tạo thêm các cơ sở lưu trữ dầu trong nước sẽ phải được giải quyết. Vấn đề này luôn nằm trong chương trình nghị sự. Thực tế cho thấy, có một khối lượng dầu nhất định mà các nhà sản xuất Nga có thể lưu trữ trong các bể chứa và trong hệ thống đường ống. Tuy nhiên, điều này là không đáng kể so với khối lượng dầu cho chế biến và xuất khẩu. 

Phó Thủ tướng A.Novak cũng cho biết thêm, Bộ Năng lượng Nga sẽ sớm giải quyết các vấn đề của tập đoàn dầu khí Lukoil (hãng đang sở hữu 4 nhà máy lọc dầu ở Nga và là nhà lọc dầu lớn thứ hai tại Nga sau Rosneft) liên quan đến lượng dầu dư thừa. Trước đó, theo Kommersant, lãnh đạo tập đoàn dầu khí Lukoil Vagit Alekperov đã đề xuất Chính phủ Nga tạm thời chuyển hướng sử dụng dầu mazut dư thừa (thường chỉ được sử dụng làm nhiên liệu dự phòng) sang làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện. 

Vào cuối tháng 03/2022, trong khuôn khổ các biện pháp trừng phạt liên quan việc Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine, Mỹ và Vương quốc Anh đã quyết định ngừng nhập khẩu dầu từ Nga. Theo ông A.Novak, thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng khoảng 3% sản lượng xuất khẩu dầu thô của Nga và chiếm khoảng 7% sản lượng các sản phẩm dầu mỏ. Ngày 21/03, Cao ủy châu Âu về chính sách an ninh và đối ngoại Josep Borrell cũng thông báo về khả năng EU áp đặt lệnh cấm nhập khẩu dầu của Nga. Các nhà phân tích ước tính rằng, việc cắt giảm sẽ ảnh hưởng đến khoảng 1/3 tổng nguồn cung dầu mỏ của Nga cho EU. Sau khi chiến dịch trừng phạt của Mỹ/phương Tây bắt đầu, các nhà kinh doanh dầu mỏ đã bắt đầu từ chối mua dầu của Nga, đồng thời dầu Urals đã được giao dịch ở mức giá kèm chiết khấu từ 20-30 USD/thùng so với dầu Brent. 

Ngày 28/03, Thư ký báo chí của Tổng thống Nga Dmitry Peshkov cho biết, Nga có thể chuyển hướng khối lượng dầu xuất khẩu từ thị trường châu Âu sang các thị trường khu vực khác, bao gồm châu Á. Ông Peshkov nhấn mạnh, Nga còn có thị trường ở khu vực Đông Nam Á. Các đơn hàng mua dầu giảm ở châu Âu sẽ được bù đắp bằng các đơn hàng từ phía Đông. Tuy nhiên, đối với Nga, châu Âu vẫn là thị trường “cao cấp”. Ngoài ra, theo Vedomosti, Ấn Độ đã bắt đầu mua dầu thô Urals từ đầu tháng 3 vừa qua. Tính đến ngày 28/3, các nhà nhập khẩu của nước này đã nhập tổng cộng 5 lô hàng với khối lượng 6 triệu thùng (khoảng 818.000 tấn). 

Theo số liệu của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) vào cuối năm 2021, tổng nhu cầu dầu ở châu Âu lên tới khoảng 13 triệu bpd trong tổng nhu cầu toàn cầu là 97,5 triệu bpd. Theo CDU TEK, trong tháng 02/2022, Nga đã xuất khẩu sang châu Âu khoảng 4,6 triệu bpd. Đồng thời, sản lượng khai thác dầu ở Nga năm 2021 đã tăng 2,2% so với năm 2020, lên mức 524 triệu tấn. Khối lượng khai thác trung bình ngày đạt 10,5 triệu bpd. Sản lượng lọc dầu của Nga trong năm qua đã tăng 3,9%, lên 280,7 triệu tấn. Sản lượng xăng tăng 6,1%, lên 40,76 triệu tấn. Sản lượng dầu diesel tăng thêm 3,2%, lên 80,3 triệu tấn. 

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia Nga, việc định hướng lại hoạt động hậu cần nguồn cung dầu thô từ EU và Mỹ sang các thị trường khác sẽ dễ dàng hơn so với các sản phẩm dầu mỏ. Thị trường dầu thô “linh hoạt hơn” và khối lượng dầu không thể xuất bán sang châu Âu do lệnh trừng phạt có thể được chuyển hướng sang châu Á, bao gồm cả thị trường Ấn Độ và Trung Quốc. Đối với các sản phẩm dầu mỏ, tình hình sẽ phức tạp hơn. Chúng chủ yếu được xuất khẩu sang châu Âu, nên việc chuyển hướng một lượng đáng kể sang các thị trường khác sẽ khó khăn hơn. 

Các chuyên gia tại công ty kiểm toán KPMG đánh giá, việc sụt giảm sản lượng có thể còn sâu hơn nữa. Theo đó, việc số lượng lớn đối tác từ chối mua dầu, sản lượng khai thác dầu tại Nga đến cuối năm 2022 có thể giảm tới 20%. 

RUB tự tin giành lại vị trí sau sự sụp đổ

Hãng tin Bloomberg mới đây đã có bài viết về sự phục hồi ấn tượng của đồng RUB sau khi mất giá mạnh vào đầu năm 2022 do liên quan đến chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga tại Ukraine. 

Bất chấp việc Mỹ/phương Tây áp dụng ngày càng nhiều các biện pháp trừng phạt mới, tỷ giá hối đoái của đồng tiền Nga đang trở lại mức mà nó được giữ trước khi xảy ra xung đột quân sự tại Ukraine. Ngay sau khi Nga bắt đầu chiến dịch đặc biệt ở Ukraine, sự sụp đổ của RUB đã trở thành “biểu tượng” cho một kỷ nguyên mới về việc Nga bị cô lập tài chính. Các lệnh trừng phạt quốc tế đã khiến tỷ giá USD/RUB tăng lên mức kỷ lục 121,5 RUB/USD. Điều này gợi lại ký ức về việc đồng nội tệ Nga đã phải chịu đựng như thế nào trong cuộc khủng hoảng tài chính Nga năm 1998. Tình hình nghiêm trọng đến mức Tổng thống Mỹ J.Biden thậm chí còn tuyên bố rằng, đồng rúp Nga đã biến thành đống đổ nát. 

Tuy nhiên, tình hình hiện nay đã hoàn toàn khác. Tỷ giá hối đoái của đồng rúp đã trở lại mức như trước khi Nga bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt. Trong ngày thứ 5 (07/004), tỷ giá USD/rúp trên sàn giao dịch Mátxcơva đã giảm xuống còn 74,2625.

Rõ ràng, bất chấp gói trừng phạt vô cùng quy mô chống lại Chính phủ Nga và giới tài phiệt, cũng như sự rút lui của các công ty nước ngày, các biện pháp trừng phạt chống Nga phần lớn sẽ tỏ ra vô hiệu nếu khách hàng nước ngoài tiếp tục tìm cách mua dầu và khí đốt thiên nhiên của Nga, qua đó hỗ trợ đồng rúp và bổ sung vào ngân sách của Nga. 

Mặc dù Nga vẫn bị cắt đứt phần lớn khỏi nền kinh tế toàn cầu, Bloomberg Economics dự báo, nước này sẽ thu được gần 321 tỷ USD từ hoạt động xuất khẩu năng lượng trong năm nay, tăng hơn 30% so với năm 2021. Sự phục hồi nhanh chóng của đồng RUB cho phép chính quyền Nga giành được phần thắng quan trọng bên trong nước Nga, nơi nhiều người dân đang theo dõi sát sao sự lên xuống của đồng nội tệ. 

Các chuyên gia hàng đầu về thị trường nhận định, các lệnh trừng phạt thực chất là một công cụ quan hệ công chúng tuyệt vời cho giới chính trị. Trong thời kỳ lịch sử nước Nga hậu Xô Viết, tỷ giá hối đoái RUB/USD thường là chỉ số kinh tế mà người dân Nga quan tâm nhất. Khi siêu lạm phát quét qua đất nước này vào đầu những năm 1990, tỷ giá hối đoái RUB/USD được hiển thị trên bảng tại mỗi ki-ốt đổi tiền, xuất hiện với số lượng lớn ở tất cả các thành phố. Đây cũng là sự phản ánh sự sụp đổ của đồng tiền quốc gia. Tiếp sau đó, đồng rúp lại sụt giảm mạnh sau vụ vỡ nợ của Nga vào năm 1998. 

Trong cuộc khủng hoảng năm 2008, các nhà chức trách đã chi hàng tỷ USD để làm chậm sự sụt giảm của đồng tiền quốc gia theo nhiều cách để không khiến người dân sợ hãi và không kích động việc rút tiền ồ ạt từ các tài khoản ngân hàng của đất nước. Người đứng đầu ngân hàng trung ương Nga Elvira Nabiullina đã mạo hiểm thả nổi tự do đồng rúp vào năm 2014 khi Mỹ/phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt lên Nga liên quan việc Crimea sáp nhập vào Nga. 

Để đối phó với các lệnh trừng phạt áp đặt lên Nga trong năm nay, Nga đã áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn và dường như chúng cũng giúp hỗ trợ đồng RUB. Các biện pháp này bao gồm việc đóng băng tài sản thuộc sở hữu của các nhà đầu tư không cư trú ở Nga và lệnh cho các công ty Nga chuyển 80% ngoại tệ mà họ nắm giữ thành đồng rúp. 

Điều này khiến một số nhà quan sát nghi ngờ tầm quan trọng của việc khôi phục tỷ giá hối đoái của đồng RUB về mức trước khi Nga bắt đầu chiến dịch đặc biệt. Hơn nữa, khối lượng giao dịch ngoại hối thấp nhất trong một thập kỷ đóng vai trò là nền tảng cho những gì đang xảy ra. Tuy nhiên, thật khó có thể bỏ qua sự phụ thuộc của một số quốc gia vào Nga khi họ tiếp tục mua dầu thô và khí đốt từ quốc gia này. Kết quả là, Nga có thặng dư tài khoản vãng lai (thuật ngữ kinh tế có nghĩa là một quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, do đó giúp củng cố đồng tiền của quốc gia đó). Điều này cũng làm suy yếu các nỗ lực tấn công Nga bằng những biện pháp trừng phạt. Các chuyên gia của Wells Fargo Securities cho biết, thặng dư tài khoản vãng lai thực sự là một nguồn ổn định đồng RUB. 

Nga đã thành công trong việc ổn định thị trường trong nước và thậm chí ngăn chặn tình trạng vỡ nợ nước ngoài, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại. Có nghĩa là, nếu liên minh các nước phương Tây chống Nga muốn đánh vào đồng RUB một lần nước, họ rất có thể sẽ phải thay đổi hướng đi. Chỉ trong tuần vừa qua, Bộ Tài chính Mỹ đã cấm thanh toán các khoản nợ bằng đồng USD từ tài khoản của Nga trong các ngân hàng của Mỹ. Đây được coi là một nỗ lực buộc Nga sử dụng dự trữ đồng USD trong nước. 

Một số chuyên gia tại Viện Tài chính quốc tế tại Mỹ cho biết, khi nền kinh tế và khu vực tài chính Nga thích nghi với môi trường mới của việc kiểm soát vốn, điều tiết giá cả và chuyển sang chế độ chuyên chế kinh tế, không có gì ngạc nhiên khi một số thị trường trong nước đang ổn định. Các biện pháp trừng phạt đã trở thành một mục tiêu di động và sẽ cần được điều chỉnh theo thời gian để duy trì hiệu quả. Các chuyên gia chỉ ra rằng, các biện pháp trừng phạt tài chính có khả năng cứng rắn hơn, thậm chí có thể tính tới việc ngắt các tổ chức khác của Nga khỏi hệ thống SWIFT mà các ngân hàng sử dụng để chuyển tiền trên khắp thế giới. 

Tổng thống Nga V.Putin đã phải thay đổi chiến lược của mình ở Ukraine, nhất là việc rút quân khỏi thủ đô Kiev. Giới phân tích cho rằng, không nên kỳ vọng quá tích cực vào sự phục hồi của thị trường trong khi các cuộc đàm phán về tình hình Ukraine vẫn đang tiếp diễn. Thậm chí, thị trường không nên kỳ vọng về một sự hòa giải sắp xảy ra để chấm dứt cuộc khủng hoảng hiện nay. 

Phương Tây giáng đòn đầu tiên vào ngành năng lượng Nga

Việc từ chối nhập khẩu than của Nga là đòn đầu tiên mà phương Tây, dẫn đầu là Mỹ, thống nhất giáng vào lĩnh vực năng lượng của Nga. Đức, nền kinh tế lớn nhất EU, có dự định từ bỏ than của Nga trong vòng 120 ngày. Về phía Nga, nước này sẽ chuyển hướng xuất khẩu than sang các thị trường Nam Á và Đông Nam Á. Các chuyên gia của trang tin 1 prime mới đây đã có bài viết về việc EU mới đây đã thông qua gói trừng phạt thứ năm chống lại Nga, đánh trực tiếp vào ngành năng lượng của nước này. 

EU đã đồng ý về gói trừng phạt thứ năm chống lại Nga, trong đó quy định việc từ chối nhập khẩu than của Nga. Ở châu Âu, Đức là nhập khẩu than lớn nhất của Nga. Một ngày sau khi gói trừng phạt được thông qua, Thủ tướng Đức Olaf Scholz tuyên bố, nước này sẽ từ chối nguồn cung than từ Nga trong vào 120 ngày, tức thời hạn chót vào cuối tháng 8. Trước đó, Bộ trưởng Tài chính Đức Lindner cho biết, việc từ chối các nguồn cung năng lượng từ Nga, trong đó có than, sẽ là một quá trình kéo dài về thời gian. 

Thủ tướng Đức Olaf Scholz cho biết, chính phủ Đức phải tận dụng giai đoạn chuyển tiếp này. Trong đó, các doanh nghiệp cần thời gian để tìm nhà cung cấp mới và Đức đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho điều này. Nga hiện chiếm khoảng một nửa lượng than mà Đức nhập khẩu. Theo các nguồn tin phương Tây, Đức có kế hoạch giảm tỷ trọng nhập khẩu than của Nga xuống 25% trong những tuần tới. Đến mùa thu, nước này sẽ ngừng hoàn toàn nhập khẩu than Nga. Trong năm 2022, Đức đã tăng đáng kể nhập khẩu than do giá khí đốt tăng mạnh vào cuối năm 2021. Than đã trở thành nhiên liệu thay thế rẻ hơn cho các nhà máy nhiệt điện của Đức. 

EU có kế hoạch phát triển các nguồn NLTT nhằm giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chủ yếu là than đá. Tuy nhiên, phát triển các nguồn NLTT cần đầu tư lớn và chúng không thể thay thế nhiên liệu hóa thạch trong ngắn hạn. 

Một ngày sau khi Nga bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt, Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habeck cho biết, Đức phụ thuộc tới 50% vào nguồn cung than từ Nga. Do đó, Chính phủ Đức sẽ quan tâm đến việc xây dựng một nguồn dự trữ than để đảm bảo an ninh năng lượng ngay cả trong trường hợp nguồn cung giảm. Ngoài ra, ông Habeck còn tái khẳng định cam kết của Chính phủ Đức hiện nay là giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (gồm than, dầu và khí đốt thiên nhiên) càng sớm càng tốt thông qua việc phát triển NLTT. 

Nguồn cung than từ sản xuất trong nước không thể đáp ứng nhu cầu của Đức. Chỉ có than nâu (than non) chất lượng thấp được khai thác ở nước này. Đến năm 2019, hoạt động khai thác than bị chấm dứt hoàn toàn ở quốc gia này. Tuy nhiên, tỷ trọng than trong cán cân năng lượng của Đức vẫn rất đáng kể, bất chấp tầm quan trọng ngày càng tăng của NLTT. 

Vào đầu năm nay, Hiệp hội các nhà nhập khẩu than của Đức đã đưa ra dự báo rằng, nguồn cung than trong năm 2022 của nước này sẽ tăng 7,7% so với năm 2021, lên 42 triệu tấn. Điều này xuất phát từ việc giá khí đốt cao và bù đắp cho sự sụt giảm sản lượng điện hạt nhân do một số tổ máy điện hạt nhân ngừng hoạt động. Trước đó vào năm 2021, Đức đã nhập khẩu 39 triệu tấn than. Tổng sản lượng điện than đạt 54,3 tỷ KWh. 

Liên quan đến việc Đức có ý định từ bỏ nguồn cung than Nga vào cuối tháng 8/2022, Bộ trưởng Năng lượng Nga Nikolai Shulginov cho biết, quyết định từ bỏ nguồn cung than của Nga trước hết sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc thay thế ngay lập tức nguồn cung than của Nga. Quá trình chuyển đổi sẽ kéo dài và tốn thêm nhiều chi phí cho hậu cần. Trên thị trường quốc tế sẽ không thể tìm thấy nguồn cung than với khối lượng đủ lớn và có chất lượng tương đương than antraxit của Nga. 

Bộ Năng lượng Nga cũng sẽ chuyển hướng xuất khẩu than Nga sang các thị trường thay thế. Theo Bộ này, trong năm 2021, tổng nguồn cung các loại than từ Nga cho EU lên tới 48,7 triệu tấn, chiếm 21,8% tổng lượng xuất khẩu. Các điểm đến xuất khẩu chính là các nước Nam Á và Đông Nam Á, nơi rao bán hơn 129 triệu tấn than, bao gồm 52 triệu tấn cho Trung Quốc và 6,6 triệu tấn cho Ấn Độ. Cả Trung Quốc và Ấn Độ hiện đang thiếu hụt nguồn than nhiệt. 

Trở ngại chính đối với việc tăng xuất khẩu than sang phía Đông là năng lực hạn chế của các tuyến đường sắt, gồm tuyến xuyên Siberia và tuyến Baikal-Amur. Nga cũng đã bắt đầu tăng xuất khẩu than sang khu vực Nam Á. Theo dữ liệu sơ bộ, sản lượng than của Nga xuất khẩu sang Ấn Độ trong tháng 3 vừa qua đã vượt 1 triệu tấn. Theo kế hoạch của Bộ Năng lượng Liên bang Nga, sản lượng than năm nay của Nga sẽ đạt 450 triệu tấn, trong đó có 237 triệu tấn than dự kiến dành cho xuất khẩu.