Phương Tây từng bước cắt đứt nguồn cung dầu mỏ từ Nga

Cấm hoàn toàn

Theo Washington Post, chính quyền của Tổng thống mỹ J.Biden đã quyết định cấm nhập khẩu dầu thô và khí đốt thiên nhiên từ Nga, cũng như mở rộng các biện pháp trừng phạt kinh tế quy mô lớn đối với nước này đã tồn tại trước đó. Đồi thời, Washington Post cũng lưu ý rằng, liên minh châu Âu (EU), vốn phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn cung năng lượng của Nga, vẫn chưa có bất kỳ hành động nào cắt giảm nguồn cung từ nước này, mặc dù đã cam kết cắt giảm 2/3 sản lượng khí đốt tiêu thụ từ Nga ngay trong năm nay. 

Các chuyên gia của 1prime đã nhiều lần chỉ ra rằng, kế hoạch trên của EU sẽ không thực hiện được. Không chỉ phía Mỹ quyết định “cứu” nước này khỏi sự phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ từ Nga, mà ý tưởng mở rộng “sự tự do” hoàn toàn nguồn cung năng lượng cũng nhận được sự ủng hộ của các đồng minh. Ví dụ, chính quyền Canada đã áp đặt lệnh cấm nhập khẩu và cấm bất kỳ công dân nào tiến hành hoạt động mua bán dầu mỏ từ Nga hoặc từ công dân Nga. Các nhà chức trách Úc cũng có ý định ngừng nhập khẩu dầu, các sản phẩm dầu mỏ, khí đốt và than đá từ Nga. 

Các nhà báo của Washington Post thừa nhận rằng, Nga là nhà xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu thế giới, đồng thời bày tỏ sự hoài nghi về quan điểm của nhiều nhà lập pháp Mỹ rằng, chính quyền nước này có thể áp đặt lệnh cấm vận dầu khí Nga mà không làm tổn hại đến nền kinh tế số 1 thế giới. Tuy nhiên, cựu ủy viên của Ủy ban đường sắt Texas (cơ quan đóng vai trò quản lý xăng dầu ở tiểu bang này của Mỹ) lại tự tin cho biết, cộng đồng quốc tế sẽ mất không quá 10 năm để thay thế khối lượng dầu mỏ mà Nga sản xuất hàng ngày trên thị trường. 

Chiến tranh tâm lý

Các chuyên gia của Quỹ an ninh năng lượng quốc gia Nga đánh giá, những tuyên bố của Mỹ và một số đồng minh về “sự tự do” khỏi dầu mỏ của Nga rõ ràng mang bản chất của chiến tranh tâm lý. Thực tế cho thấy, Nga là một người chơi quá lớn trên thị trường. Nước này kiểm soát khoảng 15% thương mại xuyên biên giới và chiếm khoảng 10% sản lượng khai thác dầu toàn cầu. Vì vậy, tất cả những lời kêu gọi tẩy chay, không mua dầu của Nga là không thực tế.

Về mặt lý thuyết, có thể giải quyết vấn đề thay thế nguồn cung dầu mỏ của Nga. Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất khác phải tăng sản lượng, tăng đầu tư và áp dụng công nghệ mới. Ở khâu trung và hạ nguồn, mỗi nhà máy lọc dầu thông thường có rổ nguyên liệu đầu vào cụ thể. Trong trường hợp thay thế nguyên liệu đầu vào từ Nga, các nhà máy phải điều chỉnh rổ nguyên liệu ở một cấp độ nhất định, đồng thời phải tính toán lại biên độ lợi nhuận. 

Các chuyên gia Nga nhận định, các quốc gia (chủ yếu là châu Âu) đang giải quyết một vấn đề chính trị thuần túy, có thể sẽ nỗ lực từ bỏ nguồn cung dầu mỏ Nga. Và tất nhiên, Trung Quốc sẽ lợi dụng tình hình để nhận được mức chiết khấu cao khi mua dầu thô và khí đốt của Nga. Đây là lý do để chính quyền Trung Quốc điều chỉnh lại tiêu thụ dầu mỏ của mình. 

Chi phí lớn

Các chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu chiến lược (CSR) tại Nga cho biết, Nga đóng một vai trò quan trọng trên thị trường dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ toàn cầu. Việc mất đi các nguồn cung từ Nga sẽ đòi hỏi tổ chức lại thị trường và gia tăng đáng kể sản lượng xuất khẩu từ các nhà sản xuất dầu mỏ khác. Ngoài ra, tại một số quốc gia ở Đông Âu, nơi mà quá trình lọc dầu chủ yếu sử dụng nguyên liệu đầu vào từ Nga, việc tìm kiếm nguyên liệu thay thế là một vấn đề nan giải. 

Các chuyên gia của CSR cho rằng, về mặt kỹ thuật, các nước OPEC (chủ yếu là ở khu vực Trung Đông) có thể tăng nguồn cung trong một thời gian tương đối ngắn. Tuy nhiên, Nga là thành viên chính trong liên minh OPEC+ và các nước tham gia đang tuân thủ hạn ngạch khai thác được cấp phép mỗi tháng theo thỏa thuận. Bất kỳ sự gia tăng sản lượng nào vượt quá giới hạn được chấp thuận sẽ bị coi là vi phạm các điều khoản của thỏa thuận. Trong số các nhà sản xuất dầu khác có khả năng tăng sản lượng và cung cấp bổ sung nguồn dầu cho thị trường thế giới, có thể kể đến Mỹ và Canada, cũng như một số quốc gia châu Phi. Tuy nhiên, các quốc gia này bị hạn chế về khai thác và thời gian gia tăng sản lượng. Trong những năm tới, các nhà sản xuất này không thể thay thế 50% sản lượng dầu của Nga trên thị trường thế giới. 

Các chuyên gia tại Viện phát triển các công nghệ năng lượng (IRTTEK) tại Nga đánh giá, một lệnh cấm vận hoàn toàn đối với nguồn cung dầu mỏ của Nga sẽ đe dọa nghiêm trọng đến chi phí năng lượng của người tiêu dùng. Theo báo cáo BP Statistical Review, trong năm 2020, Nga đã xuất khẩu khoảng 5,2 triệu thùng dầu/ngày. Để so sánh, trước khi Mỹ tuyên bố cấm vận dầu mỏ Iran vào tháng 05/2018, nước này đã xuất khẩu 2,6 triệu thùng dầu/ngày.  Sau đó, xuất khẩu dầu của Iran đã giảm từ 2,6 triệu bpd xuống 900.000 bpd (5/2019) và xuống còn 400.000 bpd vào tháng 4/2020. Nguồn cung giảm dẫn đến giá dầu tăng. Theo đó, giá dầu Brent tăng trung bình từ 54,4 USD/thùng (2017) lên 71,1 USD/thùng vào năm 2018. Chính vì vậy, các biện pháp cấm vận đối với nguồn cung dầu từ Nga sẽ duy trì giá dầu Brent ở mức trên 100 USD/thùng. 

Tác động từ trừng phạt

Giới chuyên gia Nga cho rằng, những nỗ lực loại bỏ dầu khí của Nga có thể sẽ chỉ dẫn đến việc định dạng lại thị trường và định hướng lại các “dòng chảy” năng lượng. Thị trường sẽ nhận được khối lượng dầu lớn hơn từ Mỹ, KSA. Trong khi đó, nguồn cung dầu Nga sẽ được rao bán ở mức độ lớn hơn trên thị trường châu Á. 

Trung Quốc và Ấn Độ vẫn là những quốc gia tiêu thụ dầu lớn trên thế giới và họ quan tâm đến nguồn cung ổn định và ít biến động về mặt giá cả. Bất kỳ hạn chế nào đối với Nga đều đi ngược lại lợi ích của Trung Quốc và Ấn Độ, vì điều này sẽ dẫn đến việc tăng giá nhiên liệu hơn nữa và khan hiếm các nguồn cung thay thế. Giờ đây, Ấn Độ ít phụ thuộc hơn vào các nguồn năng lượng từ Nga so với Trung Quốc. Tuy nhiên, các công ty Nga coi Ấn Độ là một trong những thị trường hứa hẹn nhất để tăng cường xuất khẩu dầu mỏ. 

Đối với châu Âu, giới chức EU nên trả lời câu hỏi cho chính mình. Trong vòng hai năm, EU đã kêu gọi cắt giảm đầu tư vào ngành dầu khí vì lý do giảm phát thải carbon và khí hậu. Giờ đây, họ phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh năng lượng nghiêm trọng, đe dọa đến quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch. Cần lưu ý thêm đến Iran. Nước này thực sự đã lách được các lệnh trừng phạt trong suốt thời gian bị áp đặt cấm vận dầu mỏ. Cấm vận của Mỹ buộc Iran phải bán dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ ra thị trường với mức chiết khấu lớn, chủ yếu cho thị trường Trung Quốc. 

Các chuyên gia Nga kết luận, một lệnh cấm vận hoàn toàn đối với ngành dầu mỏ của Nga là khó có thể thực hiện trên thực tế. Nếu chúng ta tính đến lệnh cấm nhập khẩu dầu Nga của Mỹ và Vương quốc Anh (dự kiến bắt đầu từ cuối năm 2022), thì các hạn chế dầu mỏ khác đối với Nga sẽ chủ yếu là tự nguyện, không phải do luật định. Giới thương nhân và người tiêu dùng sẽ giảm mua dầu và các sản phẩm dầu mỏ của Nga theo cách của riêng mình. Đồng thời, dầu thô của Nga vẫn sẽ được rao bán trên thị trường quốc tế với mức chiết khấu hai con số so với dầu Brent. Tuy nhiên, như 1prime đã nhận định, với giá dầu trên 100 USD/thùng, nguồn thu ngân sách từ xuất khẩu dầu thô của Nga trong năm nay sẽ tăng gấp đôi so với dự tính.