Nhu cầu tiêu thụ dầu thô sẽ tiếp tục tăng

Mặc dù đại dịch vẫn đang tiếp diễn, song tác động của nó đối với kinh tế thế giới và nhu cầu năng lượng đang mờ nhạt dần

Đại dịch cúm (The Great Influenza) trong những năm 1918-1919 được coi là một trong những thảm họa lớn nhất trong thế kỷ XX, đã lấy đi sinh mạng của hơn 50 triệu người. Tuy nhiên, đại dịch này đã kết thúc tương đối nhanh chóng, bắt đầu từ mùa xuân năm 1918 và kết thúc vào mùa xuân năm 2019. Hiện tại, đã 21 tháng trôi qua kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tại Trung Quốc vào tháng 01/2020, kèm theo đó là tỷ lệ tử vong vì đại dịch trên toàn cầu vẫn đang ở mức cao. Hãng phân tích Wood Mackenzie mới đây đã có bài viết phân tích về tình hình nhu cầu tiêu thụ dầu thô trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trong năm 2021. 

Mặc dù đại dịch vẫn đang tiếp diễn, song tác động của nó đối với kinh tế thế giới và nhu cầu năng lượng đang mờ nhạt dần. Sự gia tăng nhu cầu trở lại được xem là nhân tố chính đẩy giá khí đốt và giá than đá cao kỷ lục ở châu Âu và châu Á trong những tuần gần đây. Đối với dầu thô cũng vậy. Tiêu thụ dầu toàn cầu đã đạt khoảng 97 triệu thùng/ngày trong quý 3 vừa qua, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2020. Theo Wood Mackenzie, tiêu thụ dầu toàn cầu sẽ đạt khoảng 99 triệu thùng/ngày trong quý IV này. Sự tăng trưởng nhu cầu đó, cùng với việc liên minh OPEC+ quyết định duy trì kế hoạch tăng nguồn cung đã được thống nhất trước đó đang khiến giá dầu tiếp tục ở quanh mức 80 USD/thùng. 

Phía Wood Mackenzie cũng dự báo, sự phục hồi kinh tế sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Đến quý III/2022, nhu cầu dầu toàn cầu sẽ quay lại mức trước đại dịch. Tuy nhiên, tốc độ phục hồi giữa các phân khúc sản phẩm và giữa các quốc gia sẽ là không đồng đều. Các quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng tương đối cao và tỷ lệ tử vong vì Covid-19 giảm mạnh đang có sự phục hồi mạnh mẽ hơn so với các quốc gia có thu nhập thấp, đang gặp khó khăn hơn trong bảo vệ sức khỏe của người dân.

Tại Mỹ, nhu cầu xăng, dầu trong mùa hè vừa qua đã đạt mức cao nhất mọi thời đại, vào khoảng 21 triệu thùng/ngày. Mức tiêu thụ xăng trong tháng 7 chỉ thấp hơn 2% so với cùng kỳ năm 2019. Dữ liệu thống kê cũng cho thấy, ngay cả khi biến thể Delta gây ra những đợt bùng phát dịch mới tại Mỹ, người dân nước này vẫn tiếp tục đi lại. Trong khi đó, nhiều nhân viên văn phòng dù không quay trở lại lịch làm việc 5/7 ngày trong tuần, vẫn tiếp tục di chuyển cho mục đích mua sắm, giải trí, du lịch. Du lịch hàng không phục hồi chậm hơn. Trong tháng 9 vừa qua, nhu cầu nhiên liệu máy bay tại Mỹ đạt gần 1,5 triệu thùng/ngày, chỉ thấp hơn 14% so với cùng kỳ năm 2019 và tăng 64% so với cùng kỳ năm 2020. 

Cùng với Mỹ, EU, Nhật Bản và hầu hết các nước OECD cũng như hầu hết các nước Mỹ Latinh, Trung Đông và Nga đã chấm dứt hoàn toàn tình trạng đóng cửa kinh tế. Sự phục hồi nhu cầu đang tiếp tục. Tuy nhiên ở phần lớn các nước châu Á, nhiều quốc gia vẫn áp dụng các biện pháp phong tỏa không liên tục để ngăn trạng đại dịch tái bùng phát. Do đó mà nhu cầu dầu tại khu vực này phục hồi không đồng đều. 

Kể từ lần dự báo trong tháng 4 vừa qua, Wood Mackenzie dự báo nhu cầu dầu tại Mỹ tăng nhẹ, trong khi tại khu vực châu Á-TBD giảm. Ví dụ, nhu cầu nhiên liệu máy bay ở Đông Nam Á phục hồi chậm hơn nhiều so với Mỹ. Tuy nhiên, khi vacxin Covid-19 tiếp tục phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, áp lực đối với những đợt phong tỏa sẽ giảm xuống và các quốc gia có nhu cầu dầu phục hồi chậm hơn Mỹ có thể sẽ bắt kịp. Sự phục hồi kinh tế ở các quốc gia có thu nhập cao với tỷ lệ tiêm chủng cao cho thấy dấu hiệu tích cực mà các quốc gia khác có thể mong đợi. 

Khi tác động của đại dịch đối với thị trường dầu mỏ lên đến đỉnh điểm, đã có những ý kiến cho rằng, loài người đã qua thời điểm “đỉnh cao” về tiêu thụ dầu trong năm 2019. Wood Mackenzie đã bày tỏ sự hoài nghi về nhận định này. Theo nhận định của hãng, thời điểm nhu cầu dầu đạt đỉnh sẽ chỉ đến khi có những thay đổi về cơ cấu tiêu thụ trong dài hạn. Những thay đổi này cần có thời gian. Có những dấu hiệu cho thấy doanh số bán xe điện tăng vọt ở châu Âu có thể giúp giảm nhu cầu nhiên liệu đường bộ, nhưng phần còn lại của thế giới chưa đạt được điều này. 

Người dân Mỹ kêu gọi hạn chế xuất khẩu năng lượng

Khi giá khí đốt ở châu Âu và châu Á tăng vọt, giá khí đốt tại Mỹ bị tác động không lớn. Giá khí Henry Hub đã tăng nhanh lên trên 6,4 USD/MMBTU, mức cao nhất kể từ năm 2008, song vẫn thấp hơn nhiều so với mức kỷ lục 40 USD/MMBTU tại Anh thời gian gần đây. 

Mặc dù vậy, người tiêu dùng Mỹ vẫn tỏ ra khá lo lắng khi giá khí đốt nội địa tăng. Trong tháng 9 vừa qua, Hiệp hội các nhà tiêu thụ năng lượng Mỹ (The Industrial Energy Consumers of America) – nhóm luôn tranh cãi về việc hạn chế xuất khẩu nhiên liệu LNG đã thúc giục Bộ trưởng năng lượng Jennifer Granholm cần hành động ngay lập tức để hạn chế doanh số xuất khẩu khí đốt ra thị trường quốc tế. Hiệp hội này thúc giục chính quyền Mỹ giảm tỷ lệ xuất khẩu LNG cho đến khi mức dự trữ khí trong các kho trở mức trung bình 5 năm, đồng thời cần tạm dừng tất cả các phê duyệt cho cơ sở xuất khẩu LNG mới để xem xét dự án có phục vụ lợi ích của người dân hay không. 

Đáp lại, chính quyền Mỹ không đưa ra bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy họ đang chuẩn bị đáp ứng các lời kêu gọi. Theo Financial Times, bộ trưởng Granholm cho biết, chính quyền liên bang đang theo dõi giá khí đốt tại Mỹ và quốc tế, đồng thời đảm bảo rằng sẽ làm tất cả những gì có thể tại Mỹ và thị trường châu Á để đảm bảo nguồn cung cho tất cả mọi người dân. 

Với việc giá xăng có nguy cơ tăng cao, chính quyền Mỹ cũng lựa chọn áp dụng các hạn chế đối với xuất khẩu dầu thô, vốn đã được dỡ bỏ vào năm 2015. Biện pháp này giúp giảm bớt gánh nặng chi phí nhiên liệu cho người tiêu dùng Mỹ. Doanh số sản phẩm dầu mỏ tại thị trường trong nước sẽ không bị hạn chế. Tác động đáng kể duy nhất của biện pháp này có thể xảy ra là sự “méo mó” trên thị trường khi xảy ra chênh lệch đáng kể giữa sản lượng dầu thô và công suất lọc dầu. Bộ trưởng Granholm thì cho rằng, việc quay trở lại hạn chế xuất khẩu dầu là khó có thể xảy ra. Bộ này có các lựa chọn công cụ khác, trong đó có giải pháp bán dầu thô từ Cục dự trữ chiến lược. 

Tổng kết

Châu Âu đang phải đối mặt với những cảnh báo mà Wood Mackenzie đưa ra. Mới đây thì Tổng thống Nga V.Putin đã đưa ra một số biện pháp hỗ trợ thị trường của Nga, trong đó có khả năng gia tăng sản lượng cung cấp trên thị trường. Tổng thống Putin cũng nhấn mạnh, Nga luôn là nhà cung cấp khí đốt tin cậy cho người tiêu dùng toàn cầu, đồng thời không khuyến khích các hoạt động đầu cơ. Phó Thủ tướng Nga A.Novak khẳng định, việc chứng nhận nhanh chóng đối với dự án North Stream 2 mới có thể phần nào giải quyết tình hình khủng hoảng nguồn cung hiện đại tại EU. 

Trong khi nguồn cung khí đốt, than đá và dầu thô ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới thì Anh lại gặp khủng hoảng nguồn cung riêng lẻ đối với nhiên liệu đường bộ. Tình trạng hoảng loạn, đổ xô đi mua xăng, dầu khiến nhiều trạm xăng hầu như “trống rỗng”. Dữ liệu mới nhất của Chính phủ Anh cho thấy, chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ về nguồn cung và sự gia tăng nhu cầu được khuếch đại bởi các bản tin và phương tiện truyền thông xã hội, có thể dẫn đến sự sụp đổ hệ thống. Ngoài ra, việc Anh chuyển sang sử dụng nhiên liệu E10 (chứa 10% ethanol) cũng là một nguyên nhân. Do ethanol có hàm lượng năng lượng thấp hơn xăng nên số km di chuyển/gallon nhiên liệu, nghĩa là người lái xe phải đổ xăng thường xuyên hơn. Trong khi đó, các nhà bán lẻ phải đối mặt với sự phức tạp trong quản lý hàng tồn kho của mình. Tổng hợp lại, những yếu tố này có thể là một cú hích bổ sung khiến hệ thống rơi vào khủng hoảng.